Thất Chân Nhân Quả


7 CHÂN NHÂN THÀNH CHÁNH QUẢ


Tu luyện thành Tiên

 

 

Thất Chân Nhân Quả là một trong những cổ thư độc đáo thuộc kho tàng Đạo học Trung Quốc. Tác giả có lẽ là một đạo sĩ ẩn danh, đã tiểu thuyết hóa rất tài hoa nhân duyên và kết quả con đường tu tiên của Tổ Sư Vương Trùng Dương cùng bảy tông đồ là Mã Ngọc, Đàm Xứ Đoan, Lưu Xứ Huyền, Khưu Xứ Cơ, Vương Xứ Nhất, Hác Đại Thông, và Tôn Bất Nhị. Bảy vị Đại Tiên này được gọi chung là Bắc Thất Chân hay Toàn Chân Thất Tử.

Tại Vạn Quốc Tự (Chơn Lý Đàn), ngày 15-11 Ất Tỵ (07-12-1965), Đức Giáo Tông Đại Đạo dạy môn sanh Cao Đài “mỗi ngày phải chừa một giờ để đọc thánh kinh hiền truyện”. Chúng ta hiểu rằng, Ơn Trên giúp chúng ta một phương tiện hiệu quả để thánh hóa tâm hồn, đồng thời rút tỉa kinh nghiệm tu hành của các đấng Thánh Hiền, Tiên Phật thuở trước. Thất Chân Nhân Quả chính là một kỳ thư mà người tu học không thể thiếu nếu muốn thi hành lời dạy của Đức Giáo Tông.

Thật vậy, ngoài gương sáng đại hạnh khổ tu của tám vị thầy trò, truyện Thất Chân còn dạy ta nhiều bài giáo pháp cao siêu về tu đơn, tịnh luyện của Tiên gia, phương pháp đối trị những chướng ngại trên đường công phu mà bất kỳ hành giả nào từ sơ cơ cho đến thượng thừa cũng thường vướng mắc. Với những sự tích rất cảm động, truyện giúp ta thấu hiểu vì sao phải kết hợp công phu với công trình, công quả.

Hiền hữu Lê Anh Minh – giải thưởng Phan Châu Trinh (2009) về dịch thuật Triết Học Trung Quốc – đã căn cứ theo Toàn Chân Thất Tử Toàn Thư 全眞七子全書, bản in của Xuân Phong Văn Nghệ Xuất Bản Xã (Liêu Ninh, Trung Quốc 1989) cống hiến chúng ta bản tiếng Việt này. Các bản chữ Hán đang có trên Internet cũng được tham khảo khi cần thiết.

Rất thú vị là hai mươi chín hồi (tức là chương) trong Thất Chân Nhân Quả đều xen kẽ nhiều bài thơ diễn bày đạo lý cao thâm. Dịch giả đã công phu phiên âm Hán-Việt, và lúc chuyển ngữ lại dùng thể thơ ngũ ngôn, thất ngôn tứ tuyệt, hay bát cú như nguyên tác, nhờ đó chúng ta có dịp thưởng thức phong vị cổ kính của Đường thi bàng bạc suốt tập sách.

Hơn thế nữa, khi chú giải chi tiết câu văn lời thơ trong truyện Thất Chân, dịch giả dẫn chứng rõ ràng nguồn gốc ở Tứ Thư của đạo Nho hay kinh điển nhà Phật. Đủ thấy Thất Chân Nhân Quả dung thông Tam Giáo. Nói khác đi, phép tu hành trong truyện Thất Chân đề huề Nho, Thích, Lão thời Nhị Kỳ, tức là chẳng xa lìa giáo lý Cao Đài buổi Kỳ Ba.

Khi biên tập bản dịch này, chúng tôi chuyển tất cả phần chữ Hán và phiên âm Hán-Việt xuống cước chú. Như thế, quý đạo hữu đọc sách đỡ rối mắt mà những vị cần tham chiếu chữ Hán vẫn không trở ngại. Một bảng Từ Ngữ Việt-Hán cuối sách giúp quý vị dễ đối chiếu các thuật ngữ.

Đối với những lời thoại trong truyện nhằm truyền dạy giáo pháp cao siêu thì chúng tôi in xiên. Như thế, quý đạo hữu dễ phân biệt, dễ lưu ý những lời tâm huyết của các vị Đại Tiên.

Hiền hữu Lê Anh Minh thực hiện bản dịch này với sở nguyện hồi hướng về giác linh thân phụ làThiện Tâm Lê Ngọc Lưu (1933-2009), môn sanh Chiếu Minh. Sách được ấn tống rộng rãi nhờ công quả pháp thí của hai vị Long Vân  Huỳnh Yến Mai là chủ nhân Long Vân Đàn (Chiếu Minh, Mỹ Tho).

Kính xin quý độc giả mỗi khi đọc sách, trong tình đồng đạo lân mẫn, hoan hỷ để tâm hộ niệm, cầu nguyện, sẻ chia cùng dịch giả và hai vị đại Mạnh Thường Quân nhiệt thành từ thuở ban sơ khai sáng Chương Trình Chung Tay Ấn Tống.

 

HỒI THỨ NHẤT

 

 

 

 

 



Bích họa Vương Tổ Sư  Toàn Chân Thất Tử
Trích tranh vẽ trên tường của đạo quán Trường Xuân (thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc).
Hàng trên, từ trái sang phải:
Tổ Sư Vương Trùng Dương, Khưu Xứ Cơ, Tôn Bất Nhị, Mã Ngọc, Đàm Xứ Đoan.
Hàng dưới, từ trái sang phải:
Hác Đại Thông, Vương Xứ Nhất, Lưu Xứ Huyền.
Ảnh do Vladimir Menkov (người Nga) chụp ngày 11-9-2008. Nguồn: wikipedia.org

 

* * * * *



Thương người nghèo sinh lòng trắc ẩn
Nhập giấc mộng nói việc về sau.(1)

Có bài thơ rằng:

Làm thiện nên từ chỗ thật tâm
Cầu khen danh hão chớ nên tầm
Hư danh giả dối đâu dùng được
Người thế cười chê kẻ lạc lầm
.(2)

Bài thơ này ý nói làm điều thiện thì phải làm thực sự. Nếu chỉ làm để cho người ta thấy, người ta khen, tức là cầu danh tiếng, nghĩa là có danh chứ không có thực. Làm thiện ở những nơi xô bồ đông đúc để người ta thấy, chứ không làm thiện cứu giúp người nghèo khổ cùng cực. Dù tốn kém rất nhiều tiền của, nhưng kiểu làm từ thiện cầu danh này không phải là làm thiện chân chính, đã vậy còn sái quấy nữa.

Ngày xưa, cuối đời Tống, tỉnh Thiểm Tây, huyện Hàm Dương có thôn Đại Ngụy. Trong thôn trên mấy trăm nhà, hơn phân nửa mang họ Vương, cũng kể là một họ lớn.

Trong họ Vương có người đàn bà góa ngoài bốn mươi tuổi, sanh được một trai, một gái, đều dựng vợ gả chồng xong rồi. Bà góa này tâm lành tánh thiện, hễ thấy con nít người ta thì cũng xem như con mình sinh ra, nên thường gọi chúng là con. Trẻ nít khi khóc thì kêu má. Bà nghe thấy liền ứng khẩu: “Má đây con.” Do đó mà mọi người gọi bà là má Vương.

Má Vương nhà khá giàu, hay làm việc thiện, hâm mộ Phật Giáo và Đạo Giáo nhất, thường hay trai tăng bố thí, lạy Phật tụng kinh, nên ai cũng nói bà là người làm việc thiện. Do đó nhiều sư sãi và đạo sĩ hay tới nhà bà quyên góp. Nhiều kẻ nghèo khổ đến xóm xin ăn. Bà đều tùy lúc mà giúp đỡ nhiều hay ít.

Cuối đông năm đó, trời đổ tuyết rất lớn, bà Vương đứng trước cửa, thấy hai người ăn mày lội tuyết đến xin bà giúp. Bà trách: “Sao không đi làm kiếm sống qua ngày, mà lần cửa nhà người ta xin ăn vậy? Nếu không phải bọn ham ăn làm biếng, thì là bọn du thủ du thực ham ở không. Ta không có nhiều cơm dư canh thừa mà cung phụng mấy người đâu.”

Bà nói chưa dứt lời thì có mấy thầy tu đến quyên góp. Bà liền lấy tiền và gạo đưa họ.

Hai người ăn mày thấy vậy liền hỏi: “Bà ham bố thí cho thầy tu mà không giúp kẻ bần hàn? Tại sao vậy?”

Bà Vương nói: “Chẳng phải ta ham bố thí cho thầy tu, mà vì sư sãi biết tụng kinh, đạo sĩ biết tu hành. Ta bố thí chút tiền và gạo cho họ, sư sãi tụng kinh tiêu tai cho ta, đạo sĩ cầu thọ cho ta. Còn giúp đỡ cho mấy người, nào có ích chi đâu? Bất quá mấy người chỉ làm rùm cửa nhà ta thôi.”

Hai người ăn mày nói: “Làm ơn chẳng cầu trả ơn, nếu cầu trả ơn thì chẳng phải làm ơn. Nay bà cho một chén gạo với ít đồng tiền mà mong cầu cho tiêu tai, thêm thọ. Bà có lầm chăng?” Nói rồi bỏ đi.

Có bài thơ rằng:

Bố thí làm chay kết thiện duyên
Mồ côi đói khổ cũng đừng quên
Cúng dường tu sĩ quên người khổ
Trời xóa công lành đó trước tiên
.(3)

Hai người ăn mày thấy bà chẳng chịu giúp, bèn bỏ đi. Đi qua không mấy nhà thì tới một nhà lầu cửa sơn đỏ, họ liền gọi lớn: “Gia gia cầu giúp!” (4)

Chẳng mấy chốc từ trong có người bước ra. Người này mặt đỏ râu dài, thần khí sảng khoái, có lượng bao dung, phong cách hào hiệp. Ông ước chừng bốn mươi tuổi, họ Vương, tên Triết, tự là Tri Minh, hiệu là Đức Uy. Lúc nhỏ có học thi thơ. Khi lớn, công danh chẳng thành, ông bỏ văn chương, chuyển sang luyện võ nghệ, đỗ đầu khoa thi võ, làm chức Hiếu Liêm.

Ngày nọ trời đổ tuyết lớn, rất rét lạnh. Vương Hiếu Liêm cùng bà vợ họ Châu và con gái là cô Thu, đang ngồi quanh bếp lửa sưởi ấm, chợt nghe bên ngoài cửa có tiếng gọi “Gia gia cầu giúp!” (4)

Ông nghe thấy, bèn ra xem thì thấy hai người ăn xin.

Ông hỏi: “Cầu gia gia giúp, hay là gia gia cầu giúp?”

Hai người đáp rằng: “Lời chẳng khá rõ. Nói rõ ắt ngờ lớn.”

Ông nghe nói thấy có lý, nên chẳng hỏi lại.

Bấy giờ tuyết đổ lớn, gió thổi mạnh. Tuyết tung bay theo gió. Khắp trời bông tuyết rơi, phủ đầy mặt đất. Chẳng thấy dáng núi, bặt bóng chim bay. Đường không người đi. Ông thấy hai người mặc áo mỏng, chịu lạnh sao nổi.

Ông động lòng trắc ẩn, bèn nói: “Mấy lời nói chơi chẳng bàn. Trời đang tuyết lớn, hai ông đi sao được? Bên cửa có gian nhà bỏ trống, trong có đống cỏ, nằm ngồi cũng được. Mời hai ông vào đó tránh tuyết.”

Hai người đáp: “Vậy tốt quá!”

Vương Hiếu Liêm liền mở cửa cho hai người vô nghỉ, rồi trở vào nhà trên sai tôi tớ dọn cơm cho họ ăn.

Có bài thơ rằng:

Mấy ai nặng nghĩa nhẹ tiền tài
Kẻ khó tới nhà mời đón ngay
Riêng có năm xưa Vương võ cử
 (5)
Trong đời hào hiệp đức vun bồi.(6)

Hai người ăn xin tạm trú ở nhà Vương Hiếu Liêm hai ngày. Trời bắt đầu quang đãng, họ có ý từ giã ra đi. Đúng lúc Vương Hiếu Liêm đi tới, phía sau là đứa tớ gái tên Ngọc Oa bưng mâm rượu và thức ăn.

Ông nói: “Mấy ngày nay tôi có việc, không đến thăm hai ông. Hôm nay rảnh rang, muốn cùng hai ông uống chén rượu, bàn chuyện ấm lạnh, có được chăng?”

Hai người ấy liền đáp: “Hay lắm!”

Vương Hiếu Liêm bèn bảo Ngọc Oa dọn chén đũa. Hai người không khách sáo, chẳng lời cám ơn, tự rót uống tì tì hết hai bầu rượu. Vương Hiếu Liêm bèn bảo Ngọc Oa lấy thêm rượu. Hai người ấy uống sảng khoái.

Vương Hiếu Liêm hỏi: “Hai ông bạn gặp khó khăn, tên họ là chi? Thường ngày làm ăn buôn bán gì?”

Một người đáp: “Anh em tôi xưa nay không biết làm ăn buôn bán chi. Anh này tên là Kim Trọng, còn tôi tên là Vô Tâm Xương.”

Vương Hiếu Liêm hỏi: “Ý tôi muốn giúp hai ông chút tiền vốn để kiếm sống qua ngày, khỏi phải xin ăn khó nhọc, chưa biết ý hai ông thế nào?”

Kim Trọng xua tay, nói: “Không được! Không được! Tôi xưa nay quen đạm bạc nhàn nhã, chẳng muốn việc ràng buộc tay chân.”

Vương Hiếu Liêm nghe nói, biết Kim Trọng không muốn buôn bán. Ông bèn hỏi Vô Tâm Xương rằng: “Ông Kim không muốn buôn bán qua ngày. Còn ông, chẳng biết có muốn chăng?”

Vô Tâm Xương đáp: “Tôi còn đạm bạc nhàn nhã hơn anh ấy nữa! Thường nghe rằng:

Gà nhà no thóc chết kề bên
Hạc ốm ngoài đồng chẳng lụy phiền
Chí hướng nhỏ nhen cầu lợi nhỏ
Thân này đâu được sướng như tiên
“.(7)

Vương Hiếu Liêm than rằng: “Nghe lời hai ông, đủ thấy phong khí cao xa. Nhưng người đời nay xem trọng quan tước, ham thích tiền bạc. Như hai ông thanh nhàn đạm bạc như vậy, nào ai biết được?”

Vô Tâm Xương nói: “Bọn tôi chẳng cầu ai biết. Nếu muốn cầu người biết thì chẳng đi ăn mày làm chi.”

Vương Hiếu Liêm nghe thấy lời siêu quần tột bậc, chẳng dám nói nữa. Ông bảo Ngọc Oa dọn dẹp bàn tiệc, rồi cùng đi vào nhà trong.

Hôm sau hai người ăn xin cáo từ ra đi. Vương Hiếu Liêm đưa tiễn ra ngoài thôn, lòng còn mến chẳng rời. Đưa tiễn thêm một đỗi, ông liền thấy một cây cầu giữa đường. Ông thầm nhớ thôn này xưa nay chẳng có cầu. Quay đầu nhìn lại, thôn Đại Ngụy mịt mờ chẳng thấy rõ. Đang lúc ông nghi nghi ngờ ngờ thì nghe Vô Tâm Xương gọi: “Hiếu Liêm! Mau lại đây!”

Vương Hiếu Liêm ngó lại thấy hai người ngồi ở đầu cầu.

Kim Trọng vỗ tay hát:

Tiền tài tụ rồi tán, áo mão lâu cũng hoại.
Chẳng ai như hai ta, gởi thân nơi thế ngoại.
Không thiếu thuế quốc gia, chẳng đàn bà oan trái.
Không nói tốt với xấu, chẳng bàn hưng với bại.
Không kết giao người thế, chẳng bị chê kỳ quái.
Một manh áo tả tơi, che thân mấy năm dài.
Hễ rách ta vá lại, dơ giặt phơi đâu ngại.
Ban ngày che thân thể, ban đêm làm mền đậy.
Không sợ trộm ra tay, chẳng lo tiểu nhân khoái.
Thường giữ chí thanh cao, một lòng chơi thượng giái.
Nếu ai biết ý ta, ắt cúi đầu lễ bái.
Ta có lý vô cùng, cho người ngàn năm toại.
Tiếc thay người chẳng biết, lấy ân đổi làm hại
.(8)

Hay là:

Tiền tài tụ tán như mây
Công danh phú quý lâu ngày cũng tiêu
Mấy ai như chúng ta đâu
Thân ngoài trần cấu sớm chiều thong dong
Thuế sưu chẳng lụy một đồng
Đàn bà oan trái chớ hòng trói trăn
Thị phi miệng thế vô ngằn
Hưng suy mặc kệ chẳng bàn luận chi
Khỏi lo mang tiếng dị kỳ
Bởi chưng người thế ta thì không chơi
Áo ta một mảnh tả tơi
Che thân cũng mấy năm trời được an
Rách thì cứ tạm vá quàng
Dơ thì giặt sạch rồi mang phơi liền
Ban đêm áo đắp làm mền
Ban ngày ta lại khoác lên thân này
Khỏi lo trộm cắp ra tay
Khỏi lo kẻ xấu trổ tài đoạt thâu
Ta hằng nuôi chí thanh cao
Mặc tình thượng giới ra vào dạo chơi
Như ai hiểu ý ta rồi
Cúi đầu lễ bái ta thời truyền ban
Đạo ta huyền nhiệm vô vàn
Ai theo sẽ thọ muôn ngàn năm dư
Lời ta rất thật chẳng hư
Cớ sao người vẫn nghi ngờ uổng thay
.

Vương Hiếu Liêm bước lên cầu. Vô Tâm Xương nói: “Hiếu Liêm có lòng đưa tiễn xa, đáng đãi một chén rượu.”

Dứt lời, lấy trong tay áo ra bình rượu nhỏ rót một chén mời Hiếu Liêm. Vương Hiếu Liêm đón chén, uống cạn, rồi uống luôn ba chén, say gục xuống mặt cầu, mê man muốn ngủ.

Bỗng Vô Tâm Xương chạy tới, một tay lôi Hiếu Liêm dậy và nói: “Đừng ngủ! Đừng ngủ! Đi theo chúng ta xem cảnh lạ.”

Vương Hiếu Liêm say rồi, mơ màng đi theo Vô Tâm Xương một đỗi, thấy có ngọn núi cao vòi vọi chặn đường.
Hiếu Liêm kinh sợ nói: “Núi cao làm sao lên được?”

Kim Trọng nói: “Đi theo ta, thì tự lên trên được.”

Hiếu Liêm quả nhiên theo Kim Trọng chẳng tốn sức chút nào, khoảnh khắc thì tới đỉnh núi. Ông thấy trên đỉnh rất bằng phẳng, có một cái ao lớn, đầy nước trong veo. Trong nước trổ lên bảy đóa sen vàng, hoa lớn như cái mâm, tươi đẹp phi thường.

Vương Hiếu Liêm thích quá, liền khen: “Hoa đẹp quá! Hoa đẹp quá! Làm sao hái cho tôi một đóa?”

Hiếu Liêm nói xong, Vô Tâm Xương nhảy xuống ao, hái hết bảy đóa hoa sen, lên đưa trọn cho Hiếu Liêm và nói: “Giao hết cho ngươi. Phải giữ gìn bảy đóa này cẩn thận. Bảy đóa có bảy người chủ: Khưu, Lưu, Đàm, Mã, Hác, Vương, Tôn. Bảy người này cùng ngươi có duyên phận thầy trò. Ngày sau các ngươi sẽ gặp nhau. Ngươi khéo khai hóa cho họ mới không phụ lòng ta cho ngươi hoa sen.”

Hiếu Liêm ôm bảy hoa sen vào lòng, rồi muốn trở về nhà, đang đi thì hỏi Vô Tâm Xương: “Bao giờ sẽ gặp lại nhau nữa?”

Vô Tâm Xương đáp:

Ngày gặp vốn không xa
Chỉ trong hai cái ba
Từ khi lìa xứ gặp
Dứt vạn duyên bên cầu
.(9)

Hiếu Liêm nghe xong liền bước xuống núi, bỗng vướng dây cát đằng (10) bên lối đi, nên rơi xuống núi, chẳng biết tính mạng thế nào, hồi sau sẽ phân giải.

Quả thật:

Chớ nói đi lên vốn chẳng dễ
Nào hay đi xuống lại khó hơn
.(11)

LÊ ANH MINH dịch và chú thích.

 

HỒI THỨ NHÌ



Cầu Vạn Duyên, Lã Tổ truyền đạo mầu
Xóm Đại Ngụy, Hiếu Liêm giả trúng phong
.(1)

Có bài thơ rằng:

Giác ngộ như đêm tối được đèn
Nhà không ánh sáng chợt bừng lên
Kiếp này không độ thân này được
Thân đợi kiếp nào mới độ yên
.(2)

Nói về Vương Hiếu Liêm ôm bảy đóa sen vào lòng, bước xuống núi bị vấp dây cát đằng mà ngã. Ông sợ hãi tỉnh dậy, thấy muôn việc đều là không, chỉ là một giấc mộng thôi. Khi mở mắt, ông thấy mình đang nằm nơi thư phòng trong nhà, và thấy con gái là Thu đứng một bên. Vương Hiếu Liêm ho một tiếng.

Cô Thu nghe thấy, la lớn: “Cha tỉnh rồi! Cha tỉnh rồi!”

Tiếng la làm kinh động bà Châu. Bà vội tới hỏi thăm: “Ông tỉnh rượu rồi à?”

Vương Hiếu Liêm nói: “Kỳ lạ quá! Kỳ lạ quá!”

Bà Châu nói: “Chuyện này đều tự ông mê mà ra, có chi kỳ lạ đâu?”

Ông hỏi: “Rõ ràng là ta đưa tiễn khách đi, sao lại nằm trong nhà?”

Bà đáp:

- “Ông thật phóng túng quá. Hôm qua ông tiễn hai kẻ ăn mày, nửa ngày không về. Cho người tìm ông mấy lần mà chẳng thấy tăm hơi gì, tôi thật chẳng yên. Chú hai Vương Mậu cùng con Ngọc Oa đi tìm ông thì thấy ông ngã nằm trên cầu, cách đây hơn hai mươi dặm.(3) Ông say khướt, bất tỉnh nhân sự, tôi bèn cho xe chở ông về nhà. Ông ngủ một ngày một đêm, bây giờ mới tỉnh.

Từ nay ông phải tự trọng, rượu phải uống ít, việc phải làm chính đáng. Ai lai lịch không rõ ràng thì ông chớ giao du. Nay ông có chức tước triều đình, được dân làng kính trọng. Nếu ngã nằm bờ nằm bụi thì còn chi thể thống? Chẳng những tự mình đánh mất uy nghi mà còn bị dân làng cười chê.”

Vương Hiếu Liêm ngồi dậy cám ơn: “Lời bà như thuốc hay, ta dám không khắc cốt ghi tâm hay sao. Ta nghĩ hôm qua hai bằng hữu hoạn nạn đó nhất định là thần tiên rồi.”

Bà nói: “Rõ ràng là hai kẻ ăn mày. Sao lại nói là hai vị thần tiên?”

Ông đáp: “Nghe lời nói, xét động tĩnh, nên biết hai vị ấy là tiên.”

Bà hỏi: “Người ấy nói cái gì, làm cái gì, mà ông cho là tiên?”

Vương Hiếu Liêm kể lại từ đầu, chuyện muốn giúp vốn cho họ làm ăn, họ từ chối thế nào; chuyện hôm sau đưa tiễn một đỗi đường ngoài hai mươi dặm thế nào; chuyện ca hát thế nào; mời uống rượu thế nào; lên núi hái sen thế nào, v.v…

Ông kể bà nghe không sót chút gì. Lại nói: “Tôi uống ba chén rượu mà say một ngày một đêm. Rồi bao nhiêu việc kỳ lạ xảy ra. Nếu chẳng phải là thần tiên thì sao có việc kỳ lạ ấy?”

Bà Châu nói: “Thường nghe người ta nói rằng thế gian có nhiều hạng người xấu, có phép thuật làm thu ngắn đường, bước vài bước là đi xa ngoài mười dặm. Một ngày có thể đi được ngàn dặm. Rồi họ bỏ thuốc mê vào rượu, mang theo bên mình. Gặp khách buôn đi một mình thì họ mời rượu. Kẻ ấy uống một chút thì mê man bất tỉnh, họ bèn trộm cắp tiền bạc, quần áo. Khi kẻ ấy tỉnh dậy thì chẳng biết đâu mà tìm. Nếu ông chẳng cẩn thận trước, thì ắt có hối hận về sau đó nghe.”

Bà nói xong, Vương Hiếu Liêm thầm nghĩ: vợ mình chẳng qua là đàn bà, nếu phân bua với vợ thì chẳng nói rõ ràng được, thôi thì cứ thuận theo ý vợ cho xong chuyện. Ông liền nói: “Bà nói đúng lắm. Tôi biết rồi.”

Bà Châu đi xuống nhà sau. Vương Hiếu Liêm ngồi một mình trong thư phòng, nhớ tới lời của Kim Trọng và Vô Tâm Xương. Suy đi gẫm lại hoài. Được mấy ngày thì bỗng tỉnh ngộ:

“Hai chữ Kim Trọng 金重 ghép lại là chữ Chung 鍾. Còn Vô Tâm Xương 無心昌 là chữ Xương 昌 không có ruột, tức là chữ Lã (Lữ) 吕. Rõ ràng hai ông tiên Chung và Lã tới độ mình rồi! Ta nay thật vô duyên, gặp tiên trước mặt mà để lỡ.

Càng nghĩ càng thấy hai vị ấy giống tiên. Bất giác ông gào lớn: “Tiếc quá! Tiếc quá!” Lại nhớ khi từ biệt tiên ông đã nói mấy lời:

Ngày gặp vốn không xa
Chỉ trong hai cái ba
Từ khi lìa xứ gặp
Dứt vạn duyên bên cầu.
Không xa nghĩa là việc cốt ở gần.
Hai cái ba ắt là mồng ba tháng ba.
Lìa xứ gặp nghĩa là muốn biết chỗ đến, ắt tìm từ chỗ đi.
Dứt vạn duyên nghĩa là tất cả các pháp đều quy về nó.

Nghĩ được tới đó, lòng ông bỗng vui vẻ. Thời gian qua mau như tên bay, ngày tháng trôi qua như thoi đưa. Đông tàn rồi, xuân lại tới.

Có bài thơ rằng:

Một năm khí tượng, một năm tân
Hoa cỏ tranh đua, lại một xuân
Em bé nhi đồng đều lớn cả
Xem qua lại thấy bạc đầu nhân
.(4)

Lại nói Vương Hiếu Liêm chờ qua hết năm, nháy mắt là đến tháng ba. Đúng ngày mồng ba, ông lẻn ra khỏi nhà, đi theo đường cũ tới cây cầu. Đợi hoài mà chẳng thấy ai tới, Hiếu Liêm thầm tưởng nhớ hình dung hai vị tiên, lòng đầy thành kính. Đứng trên cầu, ông ngó đông ngó tây, bỗng nghe sau lưng có tiếng gọi: “Hiếu Liêm sao đến sớm vậy?”

Vương Hiếu Liêm quay đầu lại nhìn, quả thật là hai người mình đã gặp năm ngoái. Ông vội chạy tới nắm tay áo hai người, nói: “Từ khi hai vị Đại Tiên đi, lòng đệ tử nhớ tưởng hoài.”

Vô Tâm Xương cùng Kim Trọng đi tới đầu cầu ngồi. Hiếu Liêm quỳ trước mặt hai vị, bẩm rằng: “Đệ tử Vương Triết mắt thịt thai phàm, chẳng biết được nhị vị Đại Tiên hạ giáng, thật vô lễ quá, kính xin nhị vị Đại Tiên tha tội. Ngày nay đệ tử thấy lại dung nhan nhị vị Đại Tiên, thiệt là phước ba đời mới có, nguyện xin nhị vị Đại Tiên chỉ dạy cho đệ tử thấy nẻo mê lầm, để bước theo đường giác ngộ, đệ tử đội ơn vô cùng.”

Vương Hiếu Liêm nói xong, cứ lạy hoài. Chỉ thấy hai người cười lớn, trong miệng có một luồng kim quang phóng ra, đôi mắt sáng rực.

Đang lúc Hiếu Liêm sụp lạy, hai người biến đổi hình dung: vị bên trái thì đầu có hai búi tóc, mặc áo dài, mặt hồng hào, mắt sáng như sao, râu dài tới ngực, tay cầm quạt lông ngỗng; vị bên phải thì đội khăn chín lớp, mặc áo đạo màu vàng, mặt như trăng tròn, nhãn quang sáng rực, đeo một thanh kiếm. Quả thực là Chung Ly Lão Tổ và Thuần Dương Lã Tổ rồi. Vương Hiếu Liêm quỳ mọp lạy, không dám ngước lên nhìn.

Lã Tổ dạy:

- “Người thời thượng cổ lòng chất phác, phong tục thuần lương. Người truyền đạo thì trước tiên truyền cho họ pháp thuật để họ hộ thân, sau mới truyền huyền công để họ thành tiên.

Ngày nay thế đạo suy bại, lòng người khác xưa. Nếu trước tiên dạy pháp thuật cho họ, ắt pháp thuật trở lại hại bản thân họ. Do đó trước tiên truyền dạy huyền công cho họ. Không có pháp thuật mà thân tự yên ổn. Chẳng dùng biến hóa mà đạo tự thành. Đạo thành thì muôn pháp đều thông suốt. Chẳng cầu pháp thuật mà pháp thuật tự có vậy. Đó gọi là giáo lý Toàn Chân.”

Lã Tổ giảng diệu lý Toàn Chân rằng:

- “Cái gọi là Toàn Chân ngụ ý thuần chân, không giả dối. Người ta ai mà chẳng có chân tâm? Chuyển một cái thì chẳng còn là chân tâm. Người ta ai mà chẳng có chân ý? Tạp niệm dấy lên thì mất chân ý. Người ta ai mà chẳng có chân tình? Thiên lệch một cái là sinh sai biệt.

Cái tâm ban đầu là chân tâm, hễ biến ảo thì thành giả tâm. Cái ý ban đầu là chân ý, hễ tính toán thì thành giả ý. Cái chí tình là chân tình, hễ ngược ngạo thì thành giả tình.

Cái tâm ban đầu tức là cái tâm vốn có của mình. Cái ý ban đầu tức là cái ý chưa có điềm triệu nảy sinh. Cái chí tình tức là cái tình thuộc bản tính.

Trong tâm có chân ý, chân tình. Trong tình mới thấy chân tâm, chân ý. Do chân tâm phát mà ra chân ý. Do chân ý phát mà ra chân tình. Cái tình ấy là cảnh tượng tự nhiên.

Không đúng lúc thì thiên cơ không hiển lộ. Nhưng con người thì bất chân. Người không chân tâm, tức không có chân ý. Không có chân ý, tức không có chân tình.

Thường thấy người tu đạo: Hễ động thì tư niệm khởi. Niệm ở tư tức là tâm bất chân. Hễ tĩnh thì dục và niệm theo nhau. Niệm ở dục tức là tâm bất chân.

Tư dục không dứt, phát ra hoặc là vô chân ý, hoặc là nửa chân nửa giả. Ở chỗ nửa giả nửa chân, chính là lúc Trời và người thừa tiếp nhau, là ý vậy.

Tình vốn không thể che đậy. Muốn nghiệm chân đạo thì phải nghiệm chân tình trước. Nghiệm chân tình tức sẽ biết được tâm là chân hay chưa chân, và biết được ý là chân hay chưa chân. Do đó đạo tu chân, ắt phải lấy ý làm đầu tiên. Ý có thành thực thì tâm mới thành thực. Tức là cái tình do tâm phát ra cũng thành thực.

Thành thực là chân vậy. Nếu thành thực không chân: khi thấy nó ở lời nói, tức là lời nói không phát xuất từ trung chính, nên chẳng phải là lời chân chính; khi thấy nó ở hành động, tức là hành động không noi theo bản tính, nên chẳng phải là hành động chân chính.

Người tu đạo thì phải trừ bỏ cái tâm ở ngoài chân tâm, trừ bỏ cái ý ở ngoài chân ý, trừ bỏ cái tình ở ngoài chân tình. Khi khởi niệm mà thốt ra lời nói, thì phải làm khởi dậy thiên lương và vất bỏ phàm tâm. Chớ để hai cái tâm (chân tâm và phàm tâm) chẳng rõ ràng, chớ để ý hỗn tạp, thì mới là chân tâm, chân ý, chân tình. Không giả dối một chút nào, tức là chân đạo. Chân đạo thi hành rộng khắp, nên gọi là Toàn Chân.”

Lã Tổ giảng cái lý Toàn Chân cho Vương Hiếu Liêm xong thì dạy các phép công phu: luyện kỷ trúc cơ (sửa mình, đắp nền), an lô lập đỉnh (đặt bếp lò, lập đảnh), thái dược (hái thuốc), hoàn đan, hỏa hầu, trừu thiêm (trừu diên thiêm hống: rút chì thêm thủy ngân). Vương Hiếu Liêm lạy thọ giáo.

Lã Tổ nói: “Sau khi ngươi thành đạo, mau đến Sơn Đông để độ bảy người. Bảy người đó là các chủ nhân của bảy hoa sen vàng mà trước đây ta đưa cho ngươi giữ.”

Lã Tổ dặn dò Hiếu Liêm xong, bèn cùng Chung Lão Tổ chuyển thân, khắp mặt đất hiện kim quang, hốt nhiên chẳng thấy hai ngài đâu.

Vương Hiếu Liêm vọng lên không trung bái tạ. Bái xong, ông còn ngước lên không trung, thầm tưởng dung nhan của hai đại tiên.

Bỗng thấy Vương Mậu và Ngọc Oa chạy tới nói: “Chúng con vâng lịnh bà đi tìm ông. Nghi là ông ở đây. Quả nhiên là gặp được ở đây. Xin mời ông về nhà, kẻo bà trông.”

Vương Hiếu Liêm thong thả đi. Trên đường ông thầm nhớ lời tiên truyền đạo. Về tới nhà, ông không vào nhà trong, mà vào ngồi ở thư phòng.

Bà Châu nghe thấy chồng về nhà, bèn đến hỏi han, thấy ông chẳng nói chẳng rằng, dáng vẻ như suy nghĩ điều gì dữ lắm. Bà liền khuyên chồng: “Ông mấy lần xem thường thân thể mà đi ra ngoài, khiến tôi lo lắng, chỉ sợ hư phẩm hạnh, bị làng xóm chê cười. Ông chẳng nghe lời khuyên, như thế nào mới là tốt?”

Vương Hiếu Liêm đang thầm nhớ phép huyền công. Khi bà Châu bước vào, ông không hề hay biết. Chợt nghe đoạn cuối lời bà nói “thế nào mới là tốt”, thì ông buột miệng nói theo: “Thế nào mới là tốt? Thế nào mới là không tốt?”

Bà Châu nghe ông nói chẳng nhằm lý lẽ, bèn thôi, không nói nữa, rồi bước ra khỏi thư phòng.

Vương Hiếu Liêm suy gẫm kỹ, thấy bị quấy rối như vậy thì tu làm sao mà thành công, làm sao mà ngộ đạo được. Nếu không tính kế để dứt tuyệt duyên trần, thì suốt đời không giải thoát được.

Cúi đầu suy nghĩ một hồi, ông nghĩ ra kế: giả bộ trúng gió á khẩu, thì mới dứt được các mối ràng buộc này. Nghĩ vậy rồi, khi thấy có ai tới gần thì ông liền làm ra dáng vẻ ngây dại, miệng kêu ú ớ. Ông không trở vào nhà trong với vợ nữa, mà cứ nằm ở thư phòng hoài.

Bà Châu thấy vậy, lòng bất an, một ngày mấy lần tới hỏi han, chỉ thấy ông suốt ngày nói ú ớ, nghe không rõ, la hét lắc đầu hoài.

Bà chịu không nổi, bèn bảo Ngọc Oa đi mời mấy bạn hữu giao du thường ngày với ông tới; để họ ở bên ông chuyện trò, xem nguyên do thế nào.

Mấy người bạn này là những người mà Vương Hiếu Liêm rất kính mến. Họ vừa bước vào thư phòng, liền hỏi: “Anh khỏe chưa?”

Vương Hiếu Liêm lắc đầu, xua tay, miệng ú ớ, nói không rõ lời. Mấy người bạn thấy ông nói không thành lời, thì biết là ông bệnh, mà không biết bệnh gì.

Một ông lớn tuổi nói: “Tôi thấy dường như anh Hiếu Liêm bị trúng gió á khẩu, chẳng biết phải vậy không. Ở phía đông của xóm mình có danh y Trương Hải Thanh. Nên cho người đi mời thầy thuốc tới bắt mạch xem bệnh thì mới biết được nguyên do.”

Bà Châu đứng ngoài cửa, nghe thấy lời ấy, bèn sai Ngọc Oa đi mời thầy thuốc.

Lát sau, thầy thuốc đến. Mấy người bạn ông Hiếu Liêm cùng đứng dậy và tránh qua một bên, để thầy thuốc vào ngồi xuống, rồi họ kể cho thầy thuốc nghe bệnh trạng của ông Hiếu Liêm.

Trương Hải Thanh bắt mạch Vương Hiếu Liêm. Mạch cả hai tay đều tốt, chẳng thấy bệnh chi. Ông bèn nói theo mọi người: “Quả nhiên là ông Vương bị trúng gió á khẩu rồi. Chỉ cần uống mấy thang thuốc là khỏi bệnh.”
Nói rồi, liền lấy bút kê toa, biên ra mấy vị thuốc.

 

 

HỒI THỨ BA



Nhận Thiên mệnh, tỉnh Sơn Đông độ thế
Vào địa đạo, núi Chung Nam ẩn thân
.(1)

Có bài thơ rằng:

Lạnh nóng tình đời chán quá thôi
Tranh danh đoạt lợi khắp nơi nơi
Thú cầm dễ độ, người khó độ
Nguyện độ thú cầm, chẳng độ người
.(2)

Nói về Vương Hiếu Liêm vốn trong người không bệnh, chẳng qua là giả đò mắc bệnh để dứt bỏ mọi ràng buộc quấy nhiễu, ngõ hầu học tốt huyền công.

Thầy thuốc Trương Hải Thanh nào biết được thâm tâm của Vương Hiếu Liêm, khám hoài mà chẳng thấy bệnh, bèn nói theo ý mọi người là ông Vương bị trúng gió á khẩu. Rồi kê toa mấy vị thuốc: xuyên khung ba đồng tiền, phòng phong nửa lạng. Kê toa xong, ông nói vài câu xã giao với mọi người, uống một tách trà thơm, sau đó lấy tiền thù lao, rồi đi.

Thầy thuốc đi rồi, mấy bạn bè của ông Vương Hiếu Liêm nói: “Anh ráng bảo trọng nha. Bọn tôi về đây. Hôm khác lại đến thăm anh.”

Vương Hiếu Liêm gật đầu. Mấy người bạn bèn ra về.

Khách ra về hết, bà Châu sai con gái là Thu cùng Ngọc Oa đến tiệm thuốc ở thôn tây, hốt thuốc về sắc. Sắc thuốc xong, cô Thu rót ra chén, hai tay bưng vào thư phòng, miệng kêu: “Cha ơi, uống thuốc.”

Nhưng cô thấy ông trợn mắt nhìn, giậm chân một cái dọa cô. Cô hoảng, vội đặt chén thuốc xuống rồi chạy ra khỏi phòng. Đợi cô Thu đi rồi, ông cầm chén thuốc đổ vào khe vách.

Lần kế, bà sai cô đem thuốc vào, cô không dám vào. Chỉ có Ngọc Oa thường ra vào, châm trà rót nước, chẳng ai dám đến trước cửa thư phòng. Hễ thấy ai là ông đấm ngực giậm chân, trợn mắt giận dữ, nên họ đều không dám tới. Bà Châu nghĩ tình vợ chồng đến thăm, ông cũng không muốn.

Từ khi ông giả bộ trúng gió á khẩu, mọi chuyện trong nhà ngoài cửa đều do một tay bà Châu lo liệu. Bà cũng không rảnh tới thăm ông thường xuyên.

Họ hàng bạn bè tới thăm ông vài lần, thấy ông cứ dáng vẻ như vậy, nên không tới nữa. Từ đó ai ai cũng nói: “Tiếc cho ông Vương Hiếu Liêm, là người tốt mà bị bệnh ngặt nghèo.”

Nhờ câu nói đó mà ông được yên ổn, thanh tĩnh, một mình trong thư phòng ngộ đạo tu chân, tu hành tĩnh tọa, trải mười hai năm thì đại đan thành tựu.

Có bài thơ rằng:

Vợ con thành bạn thành bè
Đói ăn cơm, khát uống chè thế thôi
Xem ra chẳng khác mọi người
Mười hai năm ẩn chợ đời luyện tu
Đến ngày viên mãn công phu
Chơn thần xuất hiện vân du mặc tình
Thế gian lắm kẻ tu hành
Mấy ai chánh quả tựu thành như ông
.(3)

Vương Hiếu Liêm tại nhà tu hành đắc đạo, xuất được dương thần, phân thân biến hóa, tự lấy đạo hiệu là Trùng Dương. Đêm nọ, tại thư phòng Vương Trùng Dương ngồi tĩnh tọa, một niệm chẳng sinh, vạn duyên đều dứt, chợt nghe trên không trung có tiếng gọi: “Vương Trùng Dương mau lên mây tiếp ngọc chiếu.”

Vương Trùng Dương nghe thấy liền phóng lên trời, gặp Thái Bạch Kim Tinh đứng trên đám mây, nói: “Vương Trùng Dương quỳ nghe ta đọc chiếu của Ngọc Đế.”

Chiếu viết rằng: “Ta thấy Vương Trùng Dương tu hành gian khổ, trải mười hai năm không chút sai sót. Nay đạo quả viên mãn, ta phong ngươi làm Khai Hóa Chân Nhân, mau qua tỉnh Sơn Đông độ người đời, sớm giúp Thất Chân thượng thăng. Sau khi ngươi thành công, ta sẽ gia phong cho ngươi. Khá tuân lệnh.

Thái Bạch Kim Tinh đọc ngọc chiếu xong, Vương Trùng Dương lạy tạ ân lần nữa, rồi thi lễ với Tinh Quân. Tinh Quân nói: “Chân Nhân mau đến Sơn Đông độ thế, chớ sợ khó nhọc mà phụ lòng Ngọc Đế. Ngày sau Hội Yến Bàn Đào ta sẽ gặp lại nhau và đàm đạo.”

Tinh Quân nói xong, bay trở về Thiên Cung. Vương Trùng Dương trở về thư phòng tĩnh tọa.

Sáng sớm ngày nọ, Ngọc Oa đem nước vào cho ông rửa mặt, đẩy cửa thấy không mở, bèn chạy báo cho bà Châu biết. Bà cùng hai đứa ở đến trước cửa thư phòng gọi ông. Thấy cửa không mở, bà nghĩ rằng ông chết rồi, bèn cho cạy cửa vào thì thấy thư phòng không có người.

Bà Châu hoảng sợ, cho người đi tìm bốn hướng, cũng không thấy tăm hơi gì. Bà khóc rống lên, kinh động làng xóm. Họ bèn đến nhà hỏi han. Ngọc Oa kể nguyên do cho họ nghe.

Vài người nói: “Việc này kỳ quái thật. Cửa đóng chặt mà người không thấy. Chẳng lẽ trổ nóc leo tường mà đi?”

Nói rồi vào xem kỹ, không thấy gạch ngói bị cạy gỡ. Bà Châu lại cho người đi tìm khắp nẻo, cũng không có dấu vết.

Trong số khách nọ có kẻ am hiểu, nói rằng: “Mấy người khỏi đi tìm nữa cho mất công. Tôi thấy ông Vương kiểu này chắc thành thần tiên rồi.”

Họ hỏi: “Ông thấy sao mà nói là ổng thành thần tiên?”

Người ấy đáp: “Ông Vương ngồi trong thư phòng mười hai năm, không di động một bước. Rồi ông giả bộ trúng gió á khẩu để dứt tuyệt trần gian. Tôi thường thấy ông Vương mặt sáng hồng hào, mắt có thần quang phóng ra. Chẳng phải thần tiên sao lại như thế?”

Mọi người nghe nói vậy thì nửa tin nửa ngờ, đồng thanh nói: “Vậy ổng thành tiên, cưỡi mây lên trời rồi.”

Bà Châu nghe nói vậy cũng vơi bớt sầu khổ. Mọi người tản ra, ai về nhà nấy.

Nói về Vương Trùng Dương, ngày đó trong thư phòng độn thổ rời khỏi thôn Đại Ngụy, rồi nhắm hướng Sơn Đông mà đi. Đi hết mấy ngàn dặm mà chẳng thấy Thất Chân đâu. Ông chỉ thấy hai hạng người: một hạng vì danh, một hạng vì lợi. Ngoài ra chẳng có ai mộ đạo để ông độ.

Ông bèn trở về Thiểm Tây, đến chân núi Chung Nam, thấy một núi đất vài trăm dặm, thanh u xinh đẹp. Ông nghĩ thôi thì độn thổ vào nơi sâu, ẩn thân nấp kỹ, đợi thế gian có người tu hành thì ra mà độ họ cũng không trễ.

Nghĩ xong, ông bắt quyết niệm chú, độn thổ, đi ước chừng nửa giờ thì thấy một chỗ rất sâu, có cái hang để dung thân. Ông bèn vào trong hang, lót chỗ ngồi, phục khí điều tức để bảo tồn mệnh.

Có bài thơ rằng:

Trời đất chỉ gồm hai hạng người
Tham danh hoặc hám lợi mà thôi
Thất Chân chưa biết phương nào độ
Hang núi ẩn thân đành đợi người
.(4)

Nói về Vương Trùng Dương ẩn thân nơi hang núi chẳng biết bao ngày, dường như gần nửa năm. Bỗng ông nghe một tiếng nổ long trời lở đất, hang núi bị chấn động nứt một đường, bên trên có luồng kim quang rọi xuống. Vương Trùng Dương cả kinh, biết sư phụ tới, vội vàng nhảy lên khỏi chỗ nứt, quả nhiên thấy hai vị tiên Chung Tổ và Lã Tổ. Vương Trùng Dương quỳ mọp lạy, không dám ngước lên.

Lã Tổ cười nói: “Người khác tu đạo thì lên thiên đường, còn ngươi tu đạo thì xuống địa phủ, xem ra công trình của ngươi với họ khác nhau lắm. Trên thì trái lòng Trời, dưới thì nghịch ý thầy, như thế mà là tiên hay sao?”

Vương Trùng Dương dập đầu tạ tội rằng: “Thưa, đệ tử nào dám làm trái lòng Trời, nghịch ý thầy. Kỳ thực, nay Sơn Đông không có ai đáng độ, cho nên đệ tử tạm ẩn náu chốn này, đợi trên đời có người tu hành, thì đệ tử tái xuất mà độ cũng không muộn.”

Lã Tổ dạy:

“Người tu hành xứ nào mà chẳng có. Chỉ tại ngươi không gắng sức tìm, nên không thấy. Như hồi đầu ngươi đâu có lòng học đạo. Nếu ta và Chung Tổ Sư không mấy lần đến điểm hóa cho ngươi thì ngươi chẳng qua là một Vương Hiếu Liêm mà thôi, chứ đâu có thành Đại La Kim Tiên như ngày nay.

Ngươi nay an nhiên, chẳng chịu tinh tấn, mà còn nói thiên hạ không người để độ, chẳng phải là sai lầm hay sao? Nếu ngươi dùng cách ta độ ngươi mà đem độ người khác, thì thiên hạ sao chẳng có người để độ?

Xưa kia ta say ba lần ở Nhạc Dương mà người đời chẳng biết, rồi ta phi thân qua hồ Động Đình, cũng cho rằng trên đời chẳng có ai để độ.

Rồi ta trở ngược lên phương Bắc, tới Liêu Dương, thấy thừa tướng nước Kim có phong khí đáng độ, nên ta đích thân chỉ điểm cho.

Thừa tướng liền bỏ ấn từ quan, lên núi tu luyện, tu thành đại đạo, lấy hiệu Hải Thiềm. Lưu Hải Thiềm bắt chước ta, đi về phương Nam. Hải Thiềm độ được Trương Tử Dương. Tử Dương độ được Thạch Hạnh Lâm. Hạnh Lâm độ được Tiết Đạo Quang. Đạo Quang độ được Trần Trí Hư. Trí Hư độ được Bạch Tử Thanh. Tử Thanh độ được Lưu Vĩnh Niên. Vĩnh Niên độ được Bành Hạc Lâm. Bảy người này đều chứng quả, gọi là Nam Thất Chân.

Hồi đó ta cũng cho là chẳng có ai để độ, nào ngờ độ được nhiều người.

Thiên hạ to lớn, bốn biển bao la, diệu lý không cùng, chí nhân chẳng ít. Sao lại có cái lý lẽ rằng chẳng có ai để độ? Nay có Bắc Thất Chân là: Khưu, Lưu, Đàm, Mã, Hác, Vương, Tôn.(5) Ta mấy lần dặn dò, ngươi chẳng đi độ. Sức ngươi lẽ nào chẳng bằng Lưu Hải Thiềm sao? Nếu chẳng bằng, đó là vì lòng ngươi sợ khó khăn mà thôi.”

Lã Tổ nói xong, Vương Trùng Dương tỏ ngộ, sợ hãi quỳ lạy tạ tội, toát mồ hôi đầm đìa.

Chung Tổ bảo Vương Trùng Dương đứng dậy, đứng qua một bên, rồi dạy rằng:

- “Chẳng phải thầy đôi ba lần trách ngươi, mà vì kỳ Hội Bàn Đào cận kề. Phải độ người trong thiên hạ tu hành liễu đạo thành tiên, cùng đi dự Hội Bàn Đào.

Bàn đào này ở núi Côn Lôn. Một ngàn năm mới nở hoa, một ngàn năm mới kết trái, một ngàn năm mới chín. Cả thảy ba ngàn năm mới được trái đào hoàn toàn. Trái đào lớn như cái đấu, hồng như lửa bừng, ăn một miếng thì sống ngàn năm.

Tây Vương Mẫu không đành lòng hưởng riêng một mình, mà muốn cùng hưởng đào với chư Thần Thánh Phật Tiên, cho nên thiết lập hội yến tên gọi là Đại Hội Quần Tiên.

Mỗi lần đại hội thì phải có Thần Tiên mới tu thành chánh quả, vậy đại hội mới có vẻ rực rỡ, chứ tham dự hội yến chỉ có những vị Thần Tiên cũ, chứng tỏ thiên hạ không còn người tu hành học đạo nữa hay sao. Tây Vương Mẫu ắt rất buồn.

Thời thượng cổ, kỳ đại hội có hơn ngàn vị vừa chứng đắc Chân Tiên đi dự. Thời trung cổ, chỉ có hơn vài trăm vị vừa chứng đắc Chân Tiên đi dự.

Tới thời nay, số lượng Thần Tiên mới không nhiều, cho nên thầy dặn dò ngươi sớm độ bảy vị, để cùng đi dự Hội Bàn Đào, cho đại hội thêm rực rỡ, tăng uy nghiêm.

Đào tiên sắp chín, nếu ngươi lần lữa để lỡ cơ duyên này, thì phải đợi ba ngàn năm nữa mới đi dự hội được. Như thế không đáng tiếc lắm sao?”

Lời Chung Tổ dạy thấu triệt lý lẽ, Trùng Dương Chân Nhân sụp xuống lạy và nói: “Đệ tử nay nghe lời Tổ Sư dạy, như vừa tỉnh mộng, nguyện lần nữa tới Sơn Đông hóa độ, xin Tổ Sư chỉ rõ đường đi nước bước.”

Chung Ly Lão Tổ nói: “Ngươi tới vùng đất dân cư đông đúc, sống lẫn với người trần, hiện thân thuyết pháp, tự nhiên có người tới tìm ngươi. Ngươi nên theo đó mà khai đường mở lối cho họ, thì công lớn sẽ thành tựu. Lần này gặp Hải thì lưu, gặp Mã thì hưng, gặp Khưu thì dừng.”

Chung Tổ nói xong thì cùng Lã Tổ cưỡi mây đi.

Vương Trùng Dương lại nhắm hướng Sơn Đông mà đi. Ngày nọ, ông tới huyện Ninh Hải, thuộc phủ Đăng Châu, tỉnh Sơn Đông. Nhớ lời thầy dạy “Gặp Hải thì lưu”, chắc là chốn này đây, Vương Trùng Dương bèn lưu lại, giả làm hành khất. Ông lấy cách Lã Tổ dùng để độ ông trước đây, để độ người khác. Chẳng biết ông độ được ai chăng? Hồi sau sẽ phân giải.

Quả thật:

Lẫn lộn trong trần đợi thời đến
Thời đến tự nhiên đạo quả thành
.(6)

 

 

HỒI THỨ TƯ



Nói lẽ vô thường, bà Tôn khuyên bạn hiền
Tìm cầu Đại Đạo, ông Mã kiếm thầy sáng
.(1)

Có bài thơ rằng:

Trời cũng không, đất cũng không
Kiếp người mờ mịt ở bên trong
Nhật cũng không, nguyệt cũng không
Mọc đông lặn tây, ai nên công
Ruộng cũng không, đất cũng không
Đổi thay mấy lượt chủ nhân ông
Vàng cũng không, bạc cũng không
Lúc chết tay còn giữ của không
Con cũng không, vợ cũng không
Suối vàng chín nẻo chẳng tương phùng
Sáng chạy tây, chiều chạy đông
Đời người bận bịu giống con ong
Hút lấy trăm hoa làm mật ngọt
Đắng cay rốt cuộc cũng hoàn không
.(2)

Nói về Vương Trùng Dương đến tỉnh Sơn Đông, phủ Đăng Châu, huyện Ninh Hải, giả dạng làm kẻ ăn mày, thực tế là muốn tìm người tu hành.

Vùng tây bắc huyện Ninh Hải có nhà họ Mã, chủ là viên ngoại tên Mã Ngọc. Cha mẹ mất sớm, anh em không có. Ông tự lập gia đình, vợ là Tôn Uyên Trinh. Tôn Uyên Trinh dung mạo đoan trang, tâm tính kín đáo, điềm tĩnh. Bà biết chữ, đọc sách, nghiên cứu chuyện xưa nay, không thích nữ công thêu thùa may vá. Tuy là phận nữ, nhưng có khí khái đàn ông.

Nói chung, hễ Mã viên ngoại không quyết đoán được việc gì thì đều hỏi ý bà. Bà nói nửa câu, hay một lời, ông liền hết nghi ngờ. Bởi vậy ông bà kính trọng nhau như khách, tình cảm đối nhau như thầy như bạn, hiềm nỗi ông bà tuổi đã trung niên mà không con không cái.

Có bài thơ rằng:

Ngày tháng trôi nhanh chẳng đợi đâu
Về đông nước chảy đã bao lâu
Chẳng tin cứ thử soi màu tóc
 (3)
Xưa mặt tươi non, nay bạc đầu.(4)

Mấy câu này ý nói thời gian qua nhanh như tên bắn, thôi thúc người mau già. Ngày tháng qua lại như thoi đưa, xua tuổi trẻ đi mất.

Vợ chồng Mã viên ngoại tuổi gần bốn mươi mà không con cái. Ngày nọ ông nói với bà rằng: “Hai ta gần tứ tuần mà không người nối dõi, gia tài to lớn này chẳng biết về tay ai?”

Tôn Uyên Trinh đáp:

Tam Hoàng trị nước lâu, Ngũ Đế lập đại công (5)
Nghiêu Thuấn nhường ngôi đế, Đại Vũ mở chín sông (6)
Thành Thang thích Y Doãn, Văn Vương kiếm Thái Công (7)
Ngũ Bá bày mưu kế, Thất Hùng khiến động lòng (8)
Tần Vương gom sáu nước, Hán Sở bỗng tranh hùng (9)
Ngô Ngụy thờ nghiệp Hán, Lưu Bị rước Ngọa Long (10)
Đông Tấn cùng Tây Tấn, sự nghiệp rối bòng bong (11)
Nam Ngụy và Bắc Ngụy, núi sông quá mông lung (12)
Từ Đường Tống đến nay, phú quý có lắm ông (13)
Thử hỏi người đâu đó? Rốt cuộc chỉ là không.(14)

Từ xưa đến nay, hơn vài vạn năm, vua chúa quan tướng hơn mấy ngàn người, rốt cuộc chớp mắt cũng là không. Vợ chồng hai ta, mọi việc trước sau đều phó mặc cho hư không vậy. Xem như trong thiên hạ chưa từng có ta, và xem như cha mẹ chưa từng sinh hai ta.”

Mã Ngọc nghe thấy cười rằng: “Người khác tuy không, nhưng còn con cháu. Hai ta cũng không, mà gốc rễ đứt hết.”

Tôn Uyên Trinh nói: “Cái không này đạt tới không gốc rễ, mới đúng là thái không.”

Có bài thơ rằng:

Không tới tột cùng là thái không
Không kim không cổ tựa hồng mông
Nếu ai hiểu được lý không ấy
Thật đến Linh Sơn gặp Đại Hùng
.(15) (16)

Tôn Uyên Trinh lại nói:

“Bàn về việc có con và không con. Có con cũng là không, không con cũng là không. Nghe nói Văn Vương có một trăm con, như nay có mấy người mang họ Cơ của ông ta? (17) Ai là con cháu vạn đời của ông ta? Có mấy người quét dọn mồ mả của ông ta?

Nghe nói Trương Công Nghệ (18) có chín trai hai gái. Quách Tử Nghi (19) bảy trai tám rể. Đậu Yên Sơn năm trai đều đỗ đạt.(20) Lưu Nguyên Phổ (21) có hai trai đều đậu cử nhân. Mấy người đó nhiều vinh hiển, con đàn cháu đống, nhưng nay con cháu ở đâu? Gió thảm mưa sầu, mồ hoang mả lạnh, mây sầu giăng đầy trời, cỏ dại lan khắp đất. Chẳng phải có con hay không con rốt cuộc cũng trở về không? Nấm mộ lẻ loi khó nói là của người không con nối dõi. Thành trì đẹp nguy nga chắc gì là của bọn có con có cháu?

Tôi nghĩ: kiếp người trên đời chỉ vài chục năm mà như trong khoảnh khắc, như cục đá lửa nhá sáng lên rồi tắt, như mộng ảo, như bọt nước, chẳng thật chẳng chân. Nhà lớn ngàn căn, tối ngủ chẳng qua bảy thước nằm.(22) Ruộng tốt vạn khoảnh, ngày ăn chẳng qua ba bữa cơm. Biết bao nhiêu mỹ vị trân hào, vô số kể lụa là gấm vóc, trong nháy mắt quỷ vô thường bước tới,(23) rồi muôn sự đều hết. Vất bỏ bao vinh hoa, không còn hưởng phú quý, dù có vô số tiền bạc cũng không mua được cái sống cái chết. Uổng cho một kiếp làm người.”

Có bài thơ rằng:

Nhân tình thế thái lắm mang vương
Lầm nhận đường mê ấy cố hương
Nay lại xưa qua đều chẳng ở
Thời gian trộn lẫn, mượn soi gương
.(24)

Tôn Uyên Trinh lại nói: “Hai ta ở chỗ không mà chẳng không, đi tìm một cái thật mà càng thật, luyện một lần công phu không sinh không diệt, học cách trường sinh bất tử vậy.”

Mã Ngọc nói: “Bà nói sai rồi. Từ xưa tới nay, hễ có sinh thì ắt có tử, sao có cái lý sống lâu không chết? Từ xưa tới nay, hễ có khởi đầu thì phải có kết thúc, sao có người làm việc không dứt?”

Tôn Uyên Trinh nói: “Tôi thường xem sách đạo. Sách có nói đến phép luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hoàn hư, khiến cho chân tính thường tồn, linh quang bất diệt. Đó chính là đạo trường sinh vậy. Nếu học được đạo này, thì mình hơn người có con gấp trăm lần.”

Mã Ngọc nói: “Tuy nói vậy, làm sao có thể luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hoàn hư, khiến cho chân tính thường tồn, linh quang bất diệt được?”

Tôn Uyên Trinh nói: “Ông phải cầu sư phụ truyền dạy, thì mới đạt được phép mầu đó.”

Mã Ngọc nói: “Tôi bái bà làm thầy cho rồi, để bà dạy công phu cho tôi.”

Tôn Uyên Trinh nói: “Tôi là phụ nữ, chẳng qua biết sơ sơ ít chữ nghĩa, xem qua vài cuốn sách, làm sao hiểu thấu được diệu lý này? Nếu ông thật lòng muốn học đạo, thì phải cầu bái minh sư thôi.”

Mã Ngọc nói: “Học thầy hỏi bạn là chuyện tôi vẫn thích, nhưng người tu đạo phải có căn tu, nếu không có căn tu, thì không thành Tiên, cũng chẳng thành Phật. Cho nên tôi tự xét căn tu mình còn nông cạn, không dám nói hai chữ tu đạo.”

Tôn Uyên Trinh nói:

Lời ông sai rồi. Làm người trên đời, ai cũng đều có căn. Nếu không căn sao được làm người? Nhưng căn cơ mỗi người khác nhau.

Người căn cơ nông cạn thì sáu căn không vẹn toàn: hoặc mắt không sáng, tai không tỏ, tay chân khuyết tật; hoặc ngây ngô câm điếc; hoặc không vợ, không chồng, không con, mồ côi; hoặc nghèo hèn hạ tiện. Đó là người căn cơ nông cạn vậy.

Còn người căn cơ sâu dày thì: hoặc quý hiển làm thiên tử, giàu có bốn biển; hoặc ở ngôi cao trọng làm tể tướng cai quản muôn dân; hoặc làm quan tiếng tăm vinh hoa; hoặc nhà cửa giàu sang sung túc, vui hưởng ruộng vườn; sáu căn hoàn chỉnh: tai mắt sáng tỏ, tâm tính thiện lương, khí chất hiền hòa. Đó là người căn cơ sâu dày vậy.

Cái mà đời xem trọng là phú quý. Người phú quý so với người tầm thường, thì căn cơ sâu dày hơn. Nếu họ biết làm chuyện giúp người lợi vật, thì căn cơ còn sâu dày hơn nữa, muốn thành Tiên thành Phật, hay thành Thánh Hiền, đều có thể được.

Do đó phải xem căn cơ là cái tùy thời tăng bổ, không thể xem là một cái bẩm sinh cố định. Nếu căn cơ là cái từ kiếp trước mang tới, sao lại buồn là kiếp sau không mang theo được? Ví như cái núi, càng đắp càng lớn, càng đắp càng cao.

Chớ nói hai ta không có căn cơ. Nếu không có căn cơ, sao hưởng thụ nhà cửa ruộng vườn lớn như thế? Cho đến tôi tớ trong nhà, mình gọi một tiếng, chúng vâng dạ trăm tiếng. Như thế mà xem, mình cũng là người có căn cơ lớn rồi vậy.

Mã Ngọc là người mộ đạo, chẳng qua nhất thời mê muội. Nay nghe vợ phân tích rõ ràng, nghĩa lý phân minh, ông chợt đại ngộ, bèn đứng dậy cảm tạ: “Nhờ bà chỉ bảo, tôi mở mang ra lắm. Nhưng chẳng biết sư phụ ở đâu mà cầu bái?”

Tôn Uyên Trinh nói: “Việc này không khó. Tôi thường thấy một ông cụ tay chống gậy trúc, mang cái cái bầu bằng sắt, thần khí mạnh mẽ, ánh mắt sáng rực, sắc mặt hồng hào. Ông xin ăn quanh thôn ta, hơn mấy năm mà dung nhan ít đổi, chẳng thấy già yếu. Tôi thấy ông cụ này ắt là có đạo. Đợi chừng nào ông cụ tới, ta tiếp đón vào nhà phụng dưỡng, rồi từ từ lạy xin học diệu lý.”

Mã Ngọc nói: “Mình có nhà cửa vườn tược rất lớn, phải làm việc kính người già, thương người nghèo, chẳng kể là người có đạo hay không có đạo. Rước ông vô nhà, ông ăn chẳng bao nhiêu, mặc cũng chẳng bao nhiêu. Để ngày mai tôi đi hỏi xem sao.”

Tôn Uyên Trinh nói: “Tu sớm một ngày, thì giải thoát sớm một ngày. Việc này chẳng nên chậm trễ.”

* * * * *



Nói về Vương Trùng Dương từ khi tới huyện Ninh Hải, đã chờ đợi mấy năm rồi. Thời gian này ông luyện huyền công tới mức tinh vi, tới chỗ linh hoạt, biết được chuyện quá khứ vị lai, hiểu thấu việc quỷ thần, có đủ phép thần thông, trí huệ viên minh, và hiểu rằng việc độ Thất Chân phải khởi đầu từ vợ chồng Mã viên ngoại. Thật là hợp với lời dạy của Chung Ly Lão Tổ: “Gặp Mã thì hưng.”

Vì thế Vương Trùng Dương loanh quanh qua lại chốn này, không xa gia trang Mã viên ngoại lắm. Như thế mấy năm cũng đã thấy mặt Mã viên ngoại vài lần, biết ông có đức tính lớn; cũng thấy mặt Tôn Uyên Trinh đôi lần, biết bà có trí huệ sâu. Ông cũng muốn tới khai thị cho hai người một lần. Nhưng lại nghĩ: Thầy thuốc chẳng nên tự tới gõ cửa người ta; đạo pháp chẳng nên truyền dạy dể duôi cho đời. Nếu họ không tới cầu khẩn, chí tâm học hỏi, thì không thể nói gì.

Vì Vương Trùng Dương hành khất ở chốn này mấy năm, ai nấy đều biết ông, đều xem ông là ông lão cô độc từ nơi xa tới, không ai nương tựa, bần cùng, xin ăn chốn này. Nào ai biết được ông là Thần Tiên, là Chân Nhân? Chỉ có Tôn Uyên Trinh là bậc kỳ nữ trong thiên hạ, là bậc dị nhân nhất trên đời, vốn tinh mắt nhìn người biết ai tốt ai xấu, biết ai phàm ai thánh. Bà biết ông lão cô độc từ nơi xa tới, không ai nương tựa, bần cùng xin ăn, chính là một vị Chân Tiên, nên bà nói với chồng, ý muốn mời ông cụ về nhà phụng dưỡng, để cầu đạo. Các vị khác trong Thất Chân cũng từ đó mà tiếp nối. Cho nên bàn về công phu tu hành của Thất Chân, thì phải kể Tôn Uyên Trinh là thứ nhất.

Có bài thơ rằng:

Trí huệ sinh ra vốn khác thường
Thần tiên đến xóm biết tinh tường
Uyên Trinh nhãn lực nếu không giỏi
Tông phái Thất Chân há tỏa hương
.(25)

Nói về Mã Ngọc, nghe vợ nói rồi, bèn bước ra dặn người giữ cửa: “Nếu thấy ông cụ mang bầu sắt tới, phải gấp báo ta biết nhé.”

Người giữ cửa liền vâng vâng dạ dạ.

Ngày nọ Mã Ngọc đang ngồi ở tiền sảnh, chợt thấy người giữ cửa chạy vào báo tin ông cụ mang bầu sắt vừa tới. Mã Ngọc vội vàng bước ra đón tiếp. Đó cũng là đạo vận của Vương Trùng Dương đến. Thật ứng hợp với lời Chung Ly Lão Tổ nói trước đây: “Tự nhiên có người tới tìm ngươi.”

Chẳng biết Mã Ngọc tiếp đón ông lão rồi sẽ ra sao? Hồi sau sẽ phân giải.

Quả thật:

Thần tiên cũng phải đợi thời cơ
Thời vận chẳng đến, đạo chẳng hành
.(26)

 

 

HỒI THỨ NĂM



Mã viên ngoại siêng nuôi dưỡng lễ thầy
Vương Trùng Dương lo tiền giúp người tu
.(1)

Có bài thơ rằng:

Tiên Phật Thánh Hiền chỉ một tâm
Điểm tô tượng đất ắt mê lầm
Thế gian thắp nến xông nhang khói
Đâu thấy nụ cười Quán Thế Âm
.(2)

Bốn câu trên ý nói muốn thành Tiên Phật, Thánh Hiền đều dụng công phu ở cái tâm này. Tâm chính thì thân cũng chính, việc làm cũng chính. Tâm tà thì thân cũng tà, việc làm cũng tà. Cho nên người tu hành trước tiên phải làm cho tâm mình đoan chính, rồi sau đó làm cho ý của mình chân thành. Nếu tâm mình không đoan chính thì ý không chân thành. Ý không chân thành thì vọng niệm phát sinh trăm mối, mãi mãi mất chân đạo. Người xưa có thơ rằng:

Niệm quấy vừa sinh thần đi liền
Thần đi sáu giặc loạn tâm điền
Tâm điền rối loạn thân vô chủ
Sáu nẻo luân hồi thấy nhãn tiền
.(3)

Lại nói:

Sáu nẻo luân hồi nói hết đâu
Súc sinh quỷ đói luống u sầu
Khuyên ai ý niệm đừng sai quấy
Một kiếp làm người há dễ đâu
.(4)

Bởi vậy nói rằng Tiên Phật, Thánh Hiền cũng từ cái tâm này mà thành. Tâm này không thể không đoan chính, ý này không thể không chân thành. Nếu không chính tâm và thành ý, dù cho đắp tượng điểm trang, đốt nến thắp nhang cũng chẳng ích gì, trái lại còn khiến Quán Thế Âm mỉm cười. Người đời không chính tâm thành ý, mà chỉ lo nhang đèn cúng vái để cầu phước, chứ không biết sự huyền diệu của tâm này. Vì thế mà Bồ Tát cười.

Trở lại chuyện đang nói về Mã Ngọc. Nghe báo rằng ông cụ mang bầu sắt vừa tới, Mã Ngọc vội vàng bước ra đón tiếp, mời ông vào nhà trong. Ông cụ theo Mã Ngọc vào tiền sảnh, tự ngồi lên ghế, dáng vẻ đường bệ, ngạo nghễ hỏi: “Ngươi gọi ta vào, muốn nói điều chi?”

Mã Ngọc đáp: “Con thấy cụ tuổi đã cao, suốt ngày hành khất, thật khó nhọc. Thôi thì cụ ở lại nhà con, con sẵn lòng nuôi dưỡng cụ. Chẳng hay ý cụ thế nào?”

Nghe chưa hết câu, ông cụ giận mặt biến sắc nói: “Ta xin ăn quen rồi. Ta không ăn thức ăn vô danh của ngươi.”

Mã Ngọc thấy ông cụ giận đổi sắc mặt, nên không dám hỏi nữa, bèn vào trong hỏi Tôn Uyên Trinh: “Tôi mời ông cụ mang bầu sắt ấy vào nhà. Tôi nói muốn phụng dưỡng ông, nhưng ông nói không ăn thức ăn vô danh của tôi. Ông không chịu lưu lại nhà mình. Nên tôi tới hỏi bà, tính sao đây?”

Tôn Uyên Trinh nghe vậy, cười nói: “Lẽ nào ông chẳng nghe nói: Quân tử cầu đạo chứ không cầu miếng ăn; tiểu nhân cầu miếng ăn chứ không cầu đạo.(5) Ông vừa gặp cụ liền lấy chuyện nuôi dưỡng ra mà dụ dỗ. Đối với bậc quân tử, lẽ nào có thể lấy miếng ăn miếng uống mà dụ dỗ cho được. Đó là ông lỡ lời, không có tâm cơ. Để tôi bước ra nói đôi lời, ông cụ chắc sẽ vui lòng ở lại.”

Có bài thơ rằng:

Nào phải thầy không khứng ở đâu
Chẳng qua Mã Ngọc nói lầm câu
Uyên Trinh giỏi giắn thông quyền biến
Khéo khiến tiên ông phải gật đầu
.(6)

Nói về Tôn Uyên Trinh bước ra tiền sảnh, thấy ông cụ, liền vái chào: “Cụ được muôn phước ạ.”

Ông cụ cười đáp: “Ta là kẻ ăn mày, có phước gì đâu mà nói!”

Tôn Uyên Trinh nói: “Cụ không phải lo lắng về nhà cửa, tiêu dao tự tại, chẳng phải là phước đó sao? Chẳng ưu chẳng sầu, thanh tĩnh vô vi, chẳng phải là phước đó sao? Trên đời này biết bao nhà phú quý, biết bao kẻ danh lợi, mà rốt cuộc lao tâm khổ tứ, nhiều ưu lắm sầu, thương vợ yêu con, ràng buộc không dứt. Tuy tiếng là có phước mà thực là không hưởng được, toàn là cái danh hão mà thôi.”

Nghe vậy ông cụ cười ha hả, nói: “Ngươi đã biết tiêu dao tự tại là phước, biết thanh tĩnh vô vi là phước. Vậy sao không học tiêu dao tự tại? Sao không học thanh tĩnh vô vi?”

Tôn Uyên Trinh đáp: “Con chẳng phải không muốn học, nhưng vì chẳng được pháp ấy. Muốn tiêu dao mà chẳng được tiêu dao, muốn thanh tĩnh mà chẳng được thanh tĩnh.”

Ông cụ nói: “Miễn là ngươi chịu học thì ta không ngại dạy ngươi.”

Tôn Uyên Trinh nói: “Cụ đã chịu phát tâm dạy con rồi. Trong hoa viên phía sau nhà con có cái hiên đón trăng, rất thanh tĩnh. Kính mời cụ đến ở. Chúng con sẽ đến học tập.”

Ông cụ gật đầu đồng ý.

Có bài thơ rằng:

Lời nói tâm cơ suốt cổ kim
Thầy tiên nay gặp được tri âm
Tri âm nghe được tri âm nói
Đây đó vốn cùng một chữ tâm
.(7)

Ông cụ nghe Tôn Uyên Trinh nói vậy, lòng rất vui, liền gật đầu đồng ý. Mã Ngọc sai người nhà quét dọn sạch sẽ hiên đón trăng, bày biện giường màn, chăn nệm, bàn ghế, rồi mời ông cụ vào nghỉ ngơi. Ông còn cho đứa ở tên là Trân Oa đến lo trà nước và đưa cơm sớm chiều cho cụ.

Mã Ngọc nói với Tôn Uyên Trinh rằng: “Hai ta với cụ trò chuyện nửa ngày mà chưa biết tên họ ông cụ là chi. Để tôi đi hỏi cụ.”

Tôn Uyên Trinh nói: “Bậc đại ân không cần ai cám ơn, bậc đại đức không cần ai biết tên. Mình lấy lễ tương ngộ, cần chi mà định biết tên cụ? Cứ gọi là ông cụ cũng được rồi.”

Mã Ngọc không tin, muốn đi hỏi tên. Tôn Uyên Trinh ngăn cản không được, đành để ông đi.

Mã Ngọc đến hiên đón trăng ở vườn hoa, thấy ông cụ đang tĩnh tọa trên trường kỷ. Mã Ngọc đến trước mặt ông, hỏi rằng: “Xin hỏi cụ tên họ là chi? Nhà ở đâu? Vì sao tới chốn này?”

Mã Ngọc hỏi liền mấy lần. Ông cụ trợn tròn mắt, cao giọng đáp: “Ta là Vương Trùng Dương, nhà ở Thiểm Tây, ngàn dặm chẳng ngại gian lao, vì ngươi mà tới đây.”

Mã Ngọc nghe nói, kinh ngạc nói: “Cụ vì con mà tới đây à?”

Vương Trùng Dương vỗ tay cười: “Ta chính vì ngươi mà tới đây.”

Mã Ngọc nói: “Cụ vì con mà tới đây. Rốt cuộc là tại sao?”

Vương Trùng Dương nói: “Vì cái gia tài to lớn của ngươi mà ta đến đây.”

Mã Ngọc nghe nói nửa cười nửa giận hỏi rằng: “Cụ vì gia tài to lớn của con mà tới, bộ cụ muốn lấy nó hay sao?”

Vương Trùng Dương nói: “Nếu không muốn cái gia tài to lớn của ngươi, thì ta chẳng đến đây.”

Nghe câu này, Mã Ngọc giận, sắc mặt sa sầm, vội vàng bước ra ngoài.

Có bài thơ rằng:

Tiên ông ăn nói khiến người kinh
Đời thuở chưa nghe chuyện bất bình
Tài sản của người đòi chiếm đoạt
Nào dè lý đạo khó tường minh
.(8)

Nói về Mã Ngọc ra khỏi hiên đón trăng, thầm nghĩ: Cụ già này thật không biết điều. Tự dưng mà muốn chiếm đoạt gia tài của kẻ khác. Đến như con nít còn chẳng mở miệng nói vậy. Người như thế có đạo đức hay sao? Ông trở về phòng ngồi xuống, lặng lẽ chẳng nói.

Tôn Uyên Trinh thấy sắc mặt chồng, biết chắc là do ông cụ nói điều chi rồi, bà bèn cười nói: “Tôi cản ông đừng đi, mà ông chẳng tin, cứ nhất định đi. Rốt cuộc ông hỏi không hợp lẽ, nên bị ông cụ nói lời gây xung đột. Ông cần có đại lượng, đừng học thói chấp nhất của hạng tiểu nhân.”

Mã Ngọc nghe vợ nói, bình tĩnh đôi chút, rồi nói: “Tôi tưởng ông cụ là người đạo đức, ai ngờ là kẻ tham tài sản.”

Tôn Uyên Trinh hỏi: “Sao biết là kẻ tham tài sản?”

Mã Ngọc kể lại: “Ông cụ tên là Vương Trùng Dương. Vì gia tài họ Mã mà tới đây.”

Tôn Uyên Trinh nói: “Cụ Vương muốn gia tài mình chắc là có lý do. Sao ông không hỏi cho rõ ràng. Thường nghe nói: Ruộng đất ngàn năm có tám trăm đời chủ. Tài sản là của chung trong trời đất, chẳng qua là cho người mượn tạm mà dùng thôi. Người biết dùng thì hưởng được vài chục năm. Người không biết dùng thì như mưa vùi dập hoa, gió thổi tan mây, tài sản đến tay mình thì tiêu tán qua tay người. Cho nên nói tài sản là của chung trong trời đất vậy, luân lưu xoay chuyển hoài. Người nghèo thành giàu, người giàu thành nghèo. Nào có chủ nhân trăm đời đâu? Nào có tôi tớ ngàn năm đâu?”

Có bài thơ rằng:

Gia sản chớ khoe lớn dẫy tràn
Ai đâu giữ mãi, chẳng tan hoang
Tiền tài vốn của chung thiên hạ
Há giữ ngàn năm được vẹn toàn
.(9)

Nói về Tôn Uyên Trinh khuyên chồng rằng: “Cụ Vương muốn gia tài mình chắc là có lý do. Nếu ông cụ nói hợp lý, thì mình chẳng ngại ngùng tặng ông cụ cho rồi. Huống chi hai ta không con không cái. Gia sản về sau biết rơi vào tay ai?”

Bà nói chưa dứt lời, Mã Ngọc cười nói: “Bà nói sao dễ dàng quá. Tổ tiên tôi từ Thiểm Tây di cư qua Sơn Đông, chịu trăm cay ngàn đắng mới lập được cái gia sản này. Tôi tuy bất tài, nhưng chẳng dám lấy cái gia sản mồ hôi nước mắt mà tổ tiên khổ công gầy dựng đem cho không người khác. Hơn nữa, vợ chồng mình mới sống được nửa đời. Nếu cho người ta tài sản rồi, về sau mình lấy gì sống qua ngày, rồi ăn mặc cái chi? Chẳng phải là lầm lẫn việc lớn hay sao?”

Tôn Uyên Trinh đáp:

“Uổng cho ông là bậc nam nhi mà chẳng có kiến thức. Mình giao gia tài cho ông cụ để cầu đạo trường sinh bất tử. Nếu có đạo trường sinh, ta tu hành thành thần tiên, thì cái gia tài này dùng làm chi?

Lại nghe nói: Một đứa con tu thành tiên thì chín tổ siêu thăng.(10) Vậy mình đâu có lầm lỗi gì đối với tổ tiên? Xem ra chữ đạo này đáng giá hơn cái gia sản to lớn của ông nhiều lắm.”

Có bài thơ rằng:

Bạc vàng của cải có hằng hà
Há sánh được bằng đạo pháp a
Tài sản tuy nhiều rồi cũng hết
Đạo mầu mãi mãi chẳng tiêu ma
.(11)

Nói về Mã Ngọc nghe lời bà như vậy, bèn nói rằng: “Lời bà chẳng phải không hay. Nếu tu chẳng thành tiên thì sao? Giống như vẽ cọp chẳng thành, lại thành chó.”

Tôn Uyên Trinh nói:

Làm người phải có lòng bền bỉ. Người chẳng có lòng bền bỉ thì chẳng thể làm thầy bói, thầy thuốc,(12) nói chi đến học thành Thần Tiên? Ai có chí sẽ thành công. Ai không có chí sẽ thất bại. Vấn đề ở chỗ có lòng bền bỉ hay không, có ý chí hay không mà thôi.

Thường nghe nói Thần Tiên vốn từ người phàm tu luyện thành. Chỉ sợ người phàm tâm không chuyên nhất thôi. Chỉ cần chuyên tâm chuyên ý tu luyện thì đắc đạo. Xưa nay Tiên Phật đều từ người phàm mà tu thành. Có phải sinh ra là Thần Tiên ngay đâu?

Mã Ngọc nghe lời bà như vậy, gật đầu khen: “Hay quá!”

Hôm sau, ông đến hiên đón trăng gặp Vương Trùng Dương, nói rằng: “Hôm qua cụ nói muốn lấy gia tài của tôi. Chẳng hay cụ muốn dùng tiền tài này để làm gì?”

Vương Trùng Dương nghiêm sắc mặt nói: “Ý ta muốn chiêu mộ những bậc ngộ đạo tu hành khắp thiên hạ về đây tu hành, luận đạo. Ta lấy tiền tài của ngươi để dưỡng tánh cho họ và bảo vệ đạo. Giúp họ bên ngoài chẳng bị phiền lụy; bên trong được nuôi dưỡng. Khi đến thì họ an lạc, khi ở chung thì họ vui vẻ.”

Vương Trùng Dương nói chân tình với Mã Ngọc. Mã Ngọc nghe lời ấy, trong lòng mới vui vẻ, khâm phục. Nhưng chẳng biết gia tài họ Mã có xả bỏ được không. Hồi sau sẽ phân giải.

Quả thật:

Xả bỏ bản thân theo việc người
Đại thánh siêu phàm mới thật là
.(13)

 

HỒI THỨ SÁU



Tôn Uyên Trinh khuyên chồng bỏ gia tài
Mã Văn Khôi ăn tiền thông quyền biến
.(1)

Có bài thơ rằng:

Vạn pháp đều không, sao lại cầu
Mượn tiền trợ đạo giúp tu lâu
Tạm đem vật ấy thông quyền biến
Ngày khác tất nhiên sẽ hết sầu
.(2)

Nói về Vương Trùng Dương bàn với Mã Ngọc về việc mượn tiền hộ đạo chiêu tập người tu hành. Mã Ngọc mới vui vẻ khâm phục nói rằng: “Cụ nói vậy thật là người có đạo đức lớn. Con và Tôn Uyên Trinh đều xin lạy cụ làm thầy. Chẳng biết ý cụ thế nào?”

Vương Trùng Dương nói: “Vợ chồng ngươi thực lòng tu đạo. Ta không thể không dạy. Nhưng trước tiên ngươi phải xả bỏ tài sản, rồi ta mới truyền dạy hai người về Chí Đạo 至道. Một lòng một ý thì tránh được ràng buộc.”

Mã Ngọc nói: “Cụ muốn dùng bao nhiêu tiền bạc thì cứ lấy dùng, con không hề cò kè thắc mắc, cần chi phải xả bỏ tài sản?”

Vương Trùng Dương nói: “Ngươi không xả bỏ, thì nó vẫn là của ngươi, ta chẳng được dùng tự do tự tiện.”

Mã Ngọc nói: “Ruộng đất bên ngoài, tiền bạc trong nhà, cùng giấy tờ kế ước con dâng hết cho cụ, vậy là xả bỏ rồi.”

Vương Trùng Dương nói: “Khế ước còn tên ngươi. Cần phải mời người trưởng tộc họ ra làm chứng, lập tờ giao ước xả bỏ tài sản, mới có thể làm bằng cứ.”

Mã Ngọc đang vui vẻ trở nên lo buồn, chào ông cụ rồi trở lên nhà trên, nói với Tôn Uyên Trinh rằng: “Theo tôi thấy, việc này không ổn.”

Tôn Uyên Trinh hỏi: “Sao mà không ổn?”

Mã Ngọc nói: “Người trong họ tôi, bà chẳng biết tâm địa của họ hay sao?”

Tôn Uyên Trinh nói: “Mỗi người mỗi tâm, sao biết hết tâm họ thế nào?”

Mã Ngọc nói: “Người trong họ tôi thấy vợ chồng mình không con nối dõi, ai nấy đều nghĩ tới chuyện phân chia tài sản. Chỉ đợi hai ta chết rồi, thì gia sản ruộng đất về tay họ. Làm sao họ chịu cho tôi đem xả bỏ tài sản, giao cho người khác? Nên tôi nói việc này không ổn.”

Tôn Uyên Trinh nói: “Việc này không khó. Ngày mai ông mời mấy vị có quyền lực trong tộc đến thương lượng. Nếu họ chịu theo ý ta thì thôi, còn như họ chẳng chịu, thì ông làm thế này, thế này… Chắc chắn họ sẽ vui vẻ theo ý ta. Bảo đảm với ông việc này sẽ thành công.”

Mã Ngọc cười nói: “Bà thật là tài tình. Việc này thành công hơn nửa rồi!”

Ông nói xong bèn bảo Mã Hưng đi mời trưởng tộc, hẹn tề tựu trước giờ ngọ ngày mai. Mã Hưng vâng lời đi mời ngay. Hôm sau, trưởng tộc và vài anh em cùng lứa đến, phân chia vai vế vào ngồi trong tiền sảnh, thầm tưởng có tiệc tùng gì đây. Một vị tối cao trong tộc tên Mã Long, là Cống Sinh, bấy giờ hỏi Mã Ngọc rằng: “Cháu mời chúng tôi đến là có chuyện gì vậy?”

Mã Ngọc đáp: “Mấy năm gần đây cháu thường bệnh hoạn. Ba ngày thì chẳng được hai ngày khỏe. Một người thì khó lo toan việc của trăm người. Vợ cháu cũng không khỏe, nên chẳng quản được việc nhà. Nay có một ông cụ họ Vương ở Thiểm Tây qua đây, là người trung hậu. Cháu muốn lưu giữ ông cụ ở lại đây, giao phó lo liệu việc nhà, để vợ chồng cháu an tâm tịnh dưỡng. Ông cụ nói vậy thì tốt lắm, bảo cháu mời trưởng tộc đến làm tờ giao ước xả bỏ gia sản. Vì vậy cháu mới mời các bậc tôn trưởng trong họ đến thương lượng, và làm tờ giao ước đưa cho ông cụ.”

Mã Ngọc dứt lời thì một người thuộc vai anh, tên Mã Minh, giận dữ đứng dậy, điểm mặt Mã Ngọc nói: “Chú có điên không? Có ngu không? Ăn nói lung tung. Cơ nghiệp tổ tông, chỉ nên giữ gìn, sao có chuyện đem cho người ngoài được? Chú bị ai lừa gạt, nên mới nói như vậy.”

Mã Ngọc tự biết lý lẽ mình không hợp, lại thấy anh kia nổi giận, nên không dám nói nữa.

Lại có một người thuộc vai chú, tên Mã Văn Khôi, là Tú Tài, và một người thuộc vai anh, tên Mã Chiêu, là Thái Học Sinh của Quốc Tử Giám. Hai người là người tài xuất sắc trong tộc họ. Hễ trong họ có chuyện lớn nhỏ gì, đều theo sự sắp đặt của hai người này. Việc được hay không, chỉ do một lời của họ. Mã Văn Khôi là người quyền biến, lúc đó thấy Mã Minh nặng lời với Mã Ngọc, bèn nói: “Đừng trách nữa. Viên ngoại của mấy người là kẻ thật thà. Trách móc vô ích. Cứ gọi ông cụ Vương ra đây cho tôi hỏi, xem có nguyên do gì.”

Nói xong liền bảo Mã Hưng đi mời cụ Vương. Mã Hưng đi chẳng mấy chốc thì Vương Trùng Dương tới. Cụ vào tiền sảnh, chẳng thi lễ, còn mấy người kia thì chẳng hỏi đến cụ. Mã Minh vừa thấy cụ Vương, liền cười lớn: “Tưởng cụ Vương là ai, hóa ra là lão ăn mày cô độc ở vùng này.”

Mã Văn Khôi nói với Vương Trùng Dương rằng: “Ông xin ăn chốn này được mấy năm. Chưa nghe nói ông có năng lực gì. Chẳng biết viên ngoại nhà tôi xem trọng ông cỡ nào mà đón về nhà nuôi dưỡng, có ăn có mặc đầy đủ. Ông phải an phận giữ mình, để sống qua ngày, thêm tuổi thọ. Cớ sao lừa cháu tôi, bảo nó xả bỏ gia sản, dâng cho ông? Ông nay năm sáu mươi tuổi, lẽ nào không hiểu chuyện. Trong thiên hạ sao có đạo lý ấy. Nói ra, không sợ bị chê cười hay sao?”

Mã Văn Khôi nói xong, Vương Trùng Dương đáp rằng: “Ta bình thường không biết làm gì hết. Chẳng qua vì sợ cái nghèo quá rồi, nên nói Mã viên ngoại đem tài sản cho ta, để ta sống thoải mái vài năm nữa, sá gì thiên hạ chê cười.”

Cụ nói chưa dứt lời, Mã Phú và Mã Quý nhảy qua, đến trước cụ, nhổ nước miếng vào mặt ông, rồi nói: “Lão già này chẳng biết thể diện gì cả: Nha đầu méo miệng mà muốn đội mão chim phượng, chuột mà muốn ăn thịt thiên nga. Uổng cho lão già sống mấy chục năm. Mở miệng mà không biết xấu hổ, khiến người ta tức giận.”

Mã Phú nói với Mã Quý rằng: “Bọn mình khỏi làm rùm nữa, tống cổ lão già ra khỏi gia trang này là xong.”

Nói rồi, hắn nhào tới muốn lôi ông cụ đi. Mã Chiêu bước tới cản lại: “Thôi chẳng cần xua đuổi ông lão, nên nghĩ tình lão là người đơn chiếc. Mã viên ngoại giữ ông lão lại, thì để ông lão tự đi. Đừng để viên ngoại xả bỏ sản nghiệp là được rồi.”

Mã Phú và Mã Quý nghe vậy bèn dừng tay. Mã Ngọc ghé miệng bên tai Mã Long, chẳng biết nói nhỏ điều chi, chỉ thấy Mã Long nói với mọi người rằng: “Mấy người đừng làm rùm beng nữa. Ai về nhà nấy đi. Ta tự có quyết định. Ta không bảo hắn xả bỏ tài sản, thì hắn nào dám làm.”

Mã Long là bậc tôn trưởng trong họ Mã, ai dám cãi lời. Cho nên ai về nhà nấy. Mã Ngọc ra ám hiệu cho ba người Mã Long, Mã Văn Khôi, Mã Chiêu ở lại, rồi mời qua thư phòng đãi tiệc. Mã Long ngồi bên trên, Mã Văn Khôi ngồi đối diện. Mã Chiêu ngồi bên trái Mã Long, Mã Ngọc ngồi bên phải Mã Long. Ngồi xong thì có gia nhân dọn tiệc ra, món ăn ngon khỏi cần nói. Uống được ba tuần rượu, Mã Ngọc đứng dậy nói: “Thưa ông Ba, chú Hai, và anh lớn có mặt hôm nay. Mã Ngọc tôi có tâm sự, muốn bàn bạc với ông Ba, chú Hai, và anh lớn đây.”

Mã Văn Khôi nói: “Cháu có việc gì, cứ nói ra, chúng tôi sẽ lo liệu.”

Mã Ngọc nói: “Cháu lẽ nào đem gia tài này cho không cụ Vương Trùng Dương. Chẳng qua là muốn ông cụ tạm trông nom gìn giữ vài năm, để cháu được rỗi rảnh mà thôi.”

Mã Chiêu hỏi: “Nhờ ông cụ gìn giữ thì được rồi, không hề chi, nhưng cần gì mà phải lập tờ giao ước xả bỏ tài sản?”

Mã Ngọc đáp: “Anh chẳng biết việc này là nhất thời quyền biến thôi. Làm vậy là muốn ông cụ thật lòng thật ý gìn giữ cho em, cho em yên tâm mà ông cụ cũng không làm biếng.”

Mã Văn Khôi nói: “Lý lẽ của cháu, ta chưa hiểu rõ lắm. Nói từ từ lại cho ta nghe xem nào.”

Mã Ngọc nói: “Kính thưa chú Hai, cháu xin nói đầu đuôi thế này: Bởi vì cháu nhiều bệnh, vợ cháu cũng thường nhức đầu chóng mặt, nên khó trông coi mọi việc. Từ lâu cháu muốn tìm một người thật thà trung hậu thay cháu chăm nom việc nhà. May thay, Trời chiều lòng người, nên cháu gặp cụ Vương là một người rất thật thà trung hậu. Cháu muốn giao phó gia tài cho ông cụ lo liệu. Nên cháu mới nói với ông cụ rằng: ‘Cụ thích quản lý tốt việc nhà này, thì nên xem gia sản này như của mình, đừng thay lòng đổi ý.’ Ông cụ không hiểu lời cháu, nên nói: ‘Ngươi bảo ta xem gia tài này như của ta, thì sao không đem cho ta luôn?’ Cháu thấy ông cụ nói lời ngây, nên cũng theo lời ngây mà nói đùa: ‘Cho cụ thì cho, có sao đâu.’ Rõ ràng là lời nói đùa, mà ông cụ tin là thật, lại còn muốn cháu mời các vị tôn trưởng trong họ cùng ông cụ lập tờ khế ước xả bỏ gia tài, đem cho ông cụ. Cháu nghĩ ông cụ là người đơn chiếc, chẳng họ hàng thân thích, không bạn không bè. Đem gia tài cho ông cụ, thì ông cụ chẳng mang nó đi đâu. Hơn nữa, ông cụ sống chẳng bao năm nữa, nếu lập tờ khế ước thì ông cụ vui lòng siêng năng quản lý công việc, để cháu hưởng nhàn dưỡng bệnh. Chừng nào ông cụ chết rồi, thì gia tài trở về tay cháu, có tổn hại chi? Cháu xin chú Hai làm chủ cho cháu, để việc này hoàn thành tốt đẹp.”

Mã Văn Khôi nói: “Tộc họ đông người, chú cũng không làm chủ được, thôi để hỏi ông Ba đây, xem thế nào.”

Mã Văn Khôi chưa dứt lời, Mã Long lắc đầu: “Ta cũng không làm chủ được. Thử hỏi Mã Chiêu xem thế nào.”

Mã Chiêu nói: “Có tôn trưởng trước mặt, cháu nào dám tự tôn.”

Mã Ngọc biết nói suông chẳng xong việc, bèn đi vào bên trong, lấy một thứ bảo bối đem ra, đặt trước mắt họ, làm họ mê liền.

Có bài thơ rằng:

Một vật cứng bền, trắng lắm a
Tròn tròn, vuông vắn, sáng mờ mờ
Xong xuôi trăm việc đều nhờ nó
Thiếu nó, muôn điều hỏng bét ra
.(3)

Nói về Mã Ngọc lấy bảo bối đưa cho ba người, thì họ cười tít mắt, không nói đẩy đưa qua lại. Mã Long nói với Mã Văn Khôi rằng: “Mã Ngọc nói rõ ràng rồi, chẳng qua là giả bộ xả bỏ tài sản đem cho lão già, để ông ta yên tâm, hết lòng lo liệu việc nhà họ Mã này. Chuyện này cũng không có gì đáng ngại.”

Mã Văn Khôi nói: “Đó tuy là quyền biến tạm thời thôi, nhưng cần phải có mọi người hợp sức.”

Mã Chiêu nói: “Chỉ cần ông Ba và chú Hai chịu làm chủ thì mọi người yên lòng vâng theo.”

Mã Văn Khôi nói với Mã Chiêu: “Chú với ông Ba làm chủ, không biết cháu làm thế nào cho mọi người yên lòng vâng theo?”

Mã Chiêu kề tai Mã Văn Khôi nói mấy câu, Mã Văn Khôi vui mừng nói: “Diệu kế! Diệu kế! Nói kiểu này thì bảo sao mà mọi người không phục.”

Rồi đứng dậy nói Mã Ngọc rằng: “Cháu yên tâm, bảo đảm với cháu chuyện này thành công.”

Chẳng biết tờ khế ước xả bỏ tài sản sẽ lập thế nào. Hồi sau sẽ phân giải.

Quả thật:

Có bạc có tiền xong việc lớn
Lo chi khế ước chẳng thành công
.(4)

 

HỒI THỨ BẢY



Lót tay trưởng tộc, Mã lập xả ước
Giảng luận huyền công, Vương truyền Toàn Chân
.(1)

Có bài thơ rằng:

Bon bon nước chảy chớ nhẩn nha
Danh lợi buộc ràng bủa lưới ta
Muôn trượng cheo leo, buông vách đá
Một tơ chẳng vướng chẳng thành ma
.(2)(3)

Nói về Mã Ngọc nghe theo mưu kế của Tôn Uyên Trinh mà hối lộ ba người đang có uy quyền trong tộc họ xong rồi. Mã Văn Khôi sai Mã Chiêu nói với mọi người trong tộc họ rằng: “Việc Mã viên ngoại xả bỏ tài sản chỉ là mưu kế thôi.”

Họ hỏi: “Tại sao gọi là mưu kế?”

Mã Chiêu nói: “Đó gọi là kế giữ cọp canh núi.”

Họ hỏi: “Kế giữ cọp canh núi này có ý gì?”

Mã Chiêu đáp: “Mã Ngọc muốn hưởng thanh nhàn, nên muốn giữ chân ông già làm mọi giữ của.”

Họ lại hỏi: “Làm sao biết được mà giữ chân ông già làm mọi giữ của?”

Mã Chiêu đáp: “Mã Ngọc thấy ông già đó là người trung hậu, nên muốn giữ chân ông ta nhờ lo liệu giùm việc nhà, nhưng sợ ông ta không hết lòng, do đó giả bộ nói xả bỏ tài sản cho ông ta. Ông ta tưởng thật, bèn muốn lập tờ khế ước xả bỏ tài sản. Mã Ngọc nghĩ rằng không lập khế ước thì ông già không tận tụy giữ gìn. Cho nên Mã Ngọc mời chúng ta đến chứng kiến việc này. Đó chẳng phải là kế giữ cọp canh núi hay sao?”

Họ hỏi: “Xả bỏ gia tài cho ông già, thì nó là của ông ta rồi. Ông sao mà không coi giữ được?”

Mã Chiêu nói: “Một phân một hào cũng không đi mất thì làm sao nói tài sản là của ông già được?”

Họ hỏi: “Sao biết một phân một hào cũng không đi mất?”

Mã Chiêu đáp: “Ông già là kẻ đơn chiếc từ phương xa tới, không bà con thân thuộc, hơn nữa lại cao tuổi, ăn chẳng bao nhiêu, mặc chẳng bao nhiêu. Khi ông nhắm mắt, đến tay không, ra đi vẫn là tay không. Nguyên gia tài này trở về chủ cũ. Lão già giữ không công giùm gia tài cho người khác, chẳng phải là mọi giữ của hay sao?”

Mọi người nghe nói đều cười. Mã Chiêu liền lấy lợi dụ họ rằng: “Ông già chết rồi gia tài trở về Mã Ngọc. Mã Ngọc thì không con cái nối dõi, lo gì mà gia tài này không về tay con em chúng ta? Nay thuận con nước mà đưa thuyền đi. Giả bộ tình cảm như vậy, làm mãn nguyện ông già. Tôi thấy ông già cũng có tình có nghĩa. Chúng ta làm xong việc này cho ông ta, ngày sau thiếu hụt chút đỉnh thì có thể mượn ông. Cho nên người ta nói: Đối mặt lưu chút tình, ngày sau dễ gặp nhau.”

Thấy Mã Chiêu nói vậy, ai nấy đều vui vẻ.

Có bài thơ rằng:

Lời nói quý tinh, chẳng quý đa
Một câu cửa miệng dứt phong ba
Nếu không vật quý đem lo lót
Lời nói dù hay việc chẳng qua
.(4)

Mã Chiêu thấy mọi người thuận tình, bèn hẹn ngày mai mọi người tề tựu.

Hôm sau, mọi người trong tộc họ tụ tập đủ ở nhà Mã Ngọc, thấy Mã Long đang tiếp Vương Trùng Dương tại tiền sảnh, cười nói vui vẻ, thân mật. Mã Khôi bảo Mã Ngọc làm thêm thức ăn đãi tiệc mọi người trong tộc họ.

Họ đến đủ mặt rồi, Mã Văn Khôi nói: “Thưa các vị lớn nhỏ trong tộc họ, nay Mã Ngọc đem gia tài giao cho tiên sinh Vương Trùng Dương, vậy có ai không chịu hay không?”

Họ đều được Mã Chiêu dặn trước, nên đồng thanh nói: “Chúng tôi y theo, không có ý khác.”

Mã Văn Khôi bảo Mã Ngọc viết tờ khế ước xả bỏ tài sản, để đọc cho mọi người trong tộc nghe. Mã Ngọc viết xong đưa tờ giấy cho Mã Văn Khôi. Mã Văn Khôi bảo Mã Chiêu đọc rằng:

“Người lập tờ khế ước xả bỏ tài sản là Mã Ngọc. Nay đem gia viên, điền sản, nhà cửa, tiền bạc, đồ vật của tổ phụ để lại, cùng gia nhân trong nhà, giao cho ông Vương Trùng Dương cai quản, tùy ý tự do tự tiện. Trong tộc họ Mã, mọi người không được trái lời. Mã Ngọc từ nay về sau cũng chẳng được hối tiếc đòi lại. Sợ miệng nói suông, không có bằng chứng, nên lập tờ khế ước này để làm bằng.
Trưởng tộc: Mã Long, Mã Văn Khôi, Mã Văn Hiền, Mã Văn Đức, Mã Văn Ngọc.
Người làm chứng: Mã Chiêu, Mã Minh, Mã Giám, Mã Trấn.
Người lập tờ khế ước xả bỏ gia tài Mã Ngọc là có thật.”

Mã Chiêu cầm tờ khế ước đọc xong, liền đưa cho Mã Ngọc. Mã Ngọc hai tay dâng cho cụ Vương Trùng Dương. Cụ Vương tiếp nhận. Kế đó khai tiệc, rượu thịt ê hề. Mọi người ăn uống no say xong thì ai tự về nhà nấy.

Thi nhân đời sau khen Mã Ngọc dũng cảm quyết tâm xả bỏ sản nghiệp, như vậy thành đạo cũng nhanh.

Bài thơ viết rằng:

Gia tài bỏ hết mến tu hành
Một vật không lưu, dục há sanh
Vọng niệm ngày nay đà sớm dứt
Năm sau ắt chóng đạo viên thành
.(5)

Nói về Mã Ngọc, thấy mọi người trong tộc họ về hết, bèn vào nhà trong, nói với Tôn Uyên Trinh rằng: “Nếu bà chẳng dạy tôi kế đó, thì việc này chẳng thành.”

Tôn Uyên Trinh cười đáp: “Hễ sự việc cứ thuận theo lý mà làm, thì sao mà chẳng thành.”

Mã Ngọc hỏi: “Việc này thành công rồi. Còn việc hai ta cầu đạo thì cầu như thế nào?”

Tôn Uyên Trinh đáp: “Việc cầu đạo thì nên thư thả. Đợi thầy tịnh dưỡng vài ngày, rồi hai ta cùng đến bái sư.”

Mã Ngọc liền khen là hay.

Tạm ngưng nói tới chuyện Mã Ngọc và Tôn Uyên Trinh cầu đạo.

Nay nói về Vương Trùng Dương, một lòng chiêu tập người tu hành trong thiên hạ về nơi này, để tu chân dưỡng tính, nhưng ông còn ngại mọi người xung quanh lời ra tiếng vào, sinh chuyện thị phi. Cho nên trước tiên ông phải thi ân bố đức, cho người người cảm phục nhớ ơn, thì về sau mới đắc dụng.

Do đó ông làm từ thiện rộng khắp: giúp đỡ tiền hoặc gạo bất kể thời gian cho người nghèo khổ và những kẻ như ông già không vợ hoặc góa vợ, đàn bà không chồng hoặc góa chồng, trẻ mồ côi, và người già không con.

Họ Mã có ai túng thiếu, khó khăn thì ông giúp đỡ ít nhiều. Trai gái không lấy vợ lấy chồng được thì ông giúp cho lấy vợ lấy chồng. Nhà ai có người bệnh tật hay có việc tang ma thì ông giúp đỡ chu toàn. Ai vay mượn không trả thì ông cũng chẳng tìm đòi lại. Đúng như Mã Chiêu nói, ông là người nhân nghĩa vậy.

Do đó vùng này trong ngoài đều yên ổn, trên dưới đều an lòng. Ông chiêu tập nhiều người lại nơi này, giảng đạo, luận bàn huyền lý, mà chẳng ai lời ra tiếng vào, sinh sự với ông.

Sự việc đầu đuôi đều hoàn toàn, là bởi ông gắng sức thi ân huệ cho người. Hễ ai được hơn người khác, hay được giàu sang, thì chớ keo kiệt, mà nên ra ân huệ cho người vậy. Người đời sau đọc tới chỗ này, có bài thơ rằng:

Lòng mà rít róng việc đâu thành
Đàm tiếu thị phi ắt phải sinh
Vương Tổ nếu không ban bố đức
Nhiều năm đố hưởng được yên bình
.(6)

Nói về Vương Trùng Dương, bên ngoài thì lo làm từ thiện, bên trong thì lo lập hơn mười cái am cỏ ở bên hông vườn hoa sau nhà, chuẩn bị chỗ cho người tu hành đến tịnh dưỡng. Mọi việc đều ổn thỏa, ông bèn dọn vào ở trong một cái am để luyện huyền công.

Ngày nọ, Mã Ngọc và Tôn Uyên Trinh cùng đến am của Vương Trùng Dương, quỳ xuống xin học đạo.

Vương Trùng Dương dạy:

“Đạo là con đường giác ngộ, khiến người ta lìa đường mê mà trở về nẻo giác. Nhưng việc này phải từ cạn tới sâu, từ nhỏ tới lớn, y theo thứ tự mà đi, thì mới thành công. Tuy nhiên, người học đạo trước tiên phải luyện tính.

Tính vốn là vật tiên thiên, phải luyện cho được tròn trịa sáng rỡ thì mới diệu dụng. Tính liên quan với tình. Tính và tình phát động, thì như rồng cọp hung dữ làm càn. Nếu không luyện tính và tình, hàng phục chúng, thì sao khử được thói hung dữ làm càn của chúng để trở về hư vô?

Đạo luyện tính là phải hồn nhiên thuần hậu, không biết không hay, không người không ta. Luyện được tính rồi thì vào chánh pháp.

Đạo hàng long phục hổ đã thực hành, lại còn phải khóa tâm viên và xiềng ý mã. Sở dĩ gọi là tâm viên ý mã, vì tâm của ta như con vượn chuyền cành, ý của ta như ngựa chạy rông. Do đó mà phải xiềng xích tâm và ý, cho tâm không lăng xăng, cho ý không lông bông, để chúng trở về tĩnh định.

Công phu tĩnh định này có thể đoạt được máy tạo hóa trời đất và diệu lý âm dương. Hễ tĩnh thì muôn tư lự đều hết, hễ định thì một niệm chẳng sinh. Thuận theo niệm lự mà làm thì thành phàm. Ngược lại niệm lự mà làm thì thành tiên.

Phải khiến cho trong tâm không có chút tạp niệm, không chút chướng ngại, trống rỗng hư không, không chấp trước cái gì, mịt mịt mờ mờ. Gọi là một sợi tơ không mắc vào người, một hạt bụi không nhiễm.

Đó là đại lược về Đạo. Còn chỗ thâm sâu huyền bí thì không thể nói ra tên và hình trạng của nó. Chỉ có thể tâm lĩnh ý hội mà thôi. Đợi cho hai ngươi tiến bộ rồi, thì ta mới chỉ điểm cho.”

Mã Ngọc nhận lãnh đạo hiệu là Đan Dương. Tôn Uyên Trinh nhận lãnh đạo hiệu là Bất Nhị, ngụ ý là vĩnh viễn không có hai lòng. Nhận lãnh đạo hiệu xong, cả hai quỳ lạy tạ ân thầy rồi trở về nhà trên.

Tôn Bất Nhị nói với Mã Đan Dương rằng: “Trước khi bái sư học đạo thì hai ta là vợ chồng. Như nay cùng bái sư rồi thì hai ta là đạo hữu, tôi gọi ông là sư huynh, ông gọi tôi là đạo hữu. Người học đạo phải dứt tuyệt ân ái, cho nên phải ở riêng biệt. Tôi không được tới chỗ riêng của huynh, huynh không được tới chỗ riêng của tôi. Có chuyện chi cần bàn bạc, thì sai hai đứa tôi tớ tới mời đến tiền sảnh để nói chuyện.”

Mã Đan Dương nói: “Cứ làm theo ý đạo hữu đi. Tôi không thể không theo. Đạo hữu có lòng chân, tôi có ý thực. Một năm hay nửa năm không đến phòng riêng đạo hữu, cũng không có trở ngại chi.”

Nói xong, Mã Đan Dương sai Mã Hưng dọn mùng màn chiếu gối ra cái phòng ở hiên phía trước cho ông ở. Từ biệt Tôn Bất Nhị rồi, ông liền ra đó an nghỉ.

Người đời sau nói rằng vợ chồng ông có dũng cảm và quyết tâm phân cách tu luyện, do đó thành đạo cũng dễ.

Có bài thơ rằng:

Đạo lớn xưa nay chẳng luyến tình
Luyến tình há đắc đạo tu hành
Năm xưa thấy rõ ông bà Mã
Chồng vợ ở riêng lòng chí thành
.(7)

Nói về Mã Đan Dương và Tôn Bất Nhị phân chia phòng riêng được nửa tháng rồi. Ngày nọ Tôn Bất Nhị sai tôi tớ đi mời Mã Đan Dương cùng với mình tới am cỏ của Vương Tổ để học đạo.

Mã Đan Dương liền rời phòng riêng, cùng Tôn Bất Nhị đến gặp Vương Tổ, hỏi: “Hôm trước thầy dạy tính là vật tiên thiên. Xin hỏi thầy tiên thiên giống cái gì?”

Vương Tổ dạy:

“Tiên thiên là cái khí hỗn độn, không sắc không thanh, không hay không biết. Có chỗ nào mà làm. Như nói giống, thì chẳng phải tiên thiên. Cái chữ giống này mất diệu đế (chân lý kỳ diệu). Không thể làm và nói nó. Nói tiên thiên có chỗ giống, tức là chấp tướng. Chấp vào tướng thì mất lý tiên thiên.

Người ta nói tiên thiên ở chỗ này. Chỗ này không thuộc về tiên thiên. Người ta nói tiên thiên ở chỗ kia. Chỗ kia cũng chẳng phải ý nghĩa tiên thiên. Nói đi nói lại, không có một vật gì.

Lấy chữ nhất (một) mà bàn luận, thì đừng nói chữ nhất là tiên thiên. Chữ nhất vốn cũng không phải là tiên thiên. Ngươi nay muốn biết lý tiên thiên, ta lấy bút viết ra cho ngươi phân biện rõ ràng.”

Vương Trùng Dương nói xong, tay cầm bút muốn phân biện diệu đế. Chẳng biết cách phân biện thế nào. Hồi sau sẽ phân giải.

Quả thật:

Tính vốn tiên thiên, vật tối linh
Luyện được chân tính, ấy tiên thiên
.(8)

 

HỒI THỨ TÁM



Nói tiên thiên, diệu lý chỉ một
Trừ ma căn, pháp môn không hai
.(1)

Có bài thơ rằng:

Hướng ngoại cầu tiên lạc nẻo đường
Tìm trăng trong nước, hoa trong gương
Tiên thiên diệu lý ngươi biết chứ
Chỉ cốt nhất tâm, chớ phô trương
.(2)

Nói về Vương Tổ dạy Mã Đan Dương và Tôn Bất Nhị rằng: “Tính vốn là vật tiên thiên, tròn trịa sáng rỡ, tuy có danh mà không có hình, không biết không hay, khó vẽ khó tả, nào có giống vật gì đâu. Nay ta vì hai ngươi mà gượng vẽ hình, hai ngươi phải tự hiểu.

Vương Tổ nói xong bèn cầm bút vẽ một vòng tròn trên ghế sơn đỏ, rồi vẽ tiếp một vòng tròn nữa bên trong có chấm một điểm . Vẽ xong thì hỏi: “Hai ngươi có hiểu được nghĩa lý gì không?”

Mã Đan Dương và Tôn Bất Nhị cùng đáp: “Đệ tử tâm tính ngu muội, không hiểu nổi nghĩa lý này. Xin thầy chỉ dạy.”

Vương Tổ giảng:

Cái vòng tròn đầu  là hình tượng lúc hỗn độn, trời đất chưa phân, nhật nguyệt chưa tách. Nó tên là Vô Cực. Vô sinh ra hữu. Cho nên ở trong cái vòng tròn kế , bên trong có một điểm. Điểm đó tên là Thái Cực. Điểm đó sinh trời sinh đất, sinh vạn vật.

Tiên thiên này do Thái Cực sinh ra. Cái điểm đó tức là một khí, cho nên khí này gọi là một khí tiên thiên.
Tính phát ra từ tiên thiên. Phát ra trước khi ta có cái xác thân này, cho tới sau khi ta mất cá